Up5me
Trang chủ > Câu hỏi lẻ > 0W3Avc_FT2J7

Đề bài

Đọc ngữ liệu sau và thực hiện để 2A, 2B

GIÃ TỪ GIA QUYẾN

(Truyện Nhị độ mai)

Tóm tắt Truyện Nhị độ mai

Nhị độ mai là truyện Nôm khuyết danh của Việt Nam, biên soạn theo cuốn tiểu thuyết Trung Quốc Trung hiếu tiết nghĩa nhị độ mai. Nhị độ mai nghĩa là hoa mai nở hai lần, trong truyện có chép việc ấy coi là một điềm hay. Theo nhà nghiên cứu văn học Dương Quảng Hàm thì truyện được chia làm 4 hồi:

Họ Mai bị gia thần làm hại (từ câu 15 đến câu 574):

Về đời Đường Đức Tông, có Mai Bá Cao làm quan ở huyện Lịch Thành, nổi tiếng là người thanh liêm trung trực. Ông có người con trai tên là Mai Bích, tự là Lương Ngọc. Vốn căm ghét phe gian thần Lư Kỷ, Hoàng Trung, nên khi được vua triệu về kinh làm Lại khoa cấp sự, Bá Cao quyết tâm sẽ vạch tội bất lương

của họ để trừ hại cho dân. Khi đến kinh, ông đến yết kiến Lư Kỷ. Một viên quan hầu của tướng phủ đòi tiền lễ trình, ông mắng rồi không vào. Ít lầu sau, trong bữa tiệc mừng thọ Lư Kỷ, bất đắc di ông phải đến mừng, những lễ vật chỉ có cân miến và cây sáp. Trong khi tiếp chuyện, Bá Cao đem chuyện cũ ra chỉ trích Lư Kỷ và Hoàng Tung và từ chối không uống rượu.

Lư Kỷ tìm cách hãm hại, Bá Cao vào tội trì hoãn việc binh, tạo cơ hội cho giặc.

Nhà vua ra lệnh chém đầu Bá Cao và truy nã cả nhà ông.

Mai Lương Ngọc nương náu ở nhà họ Trần (từ câu 475 đến câu 878):

Nhận được tin dữ, Mai phu nhân (vợ Bá Cao) đến nhà em ở Sơn Đông ẩn náu, còn Mai Lương Ngọc (con trai Bá Cao) cùng người hầu là Hỷ Đồng chạy sang nhà Hầu Loan, là cha vợ chưa cưới. Muốn thử bụng Hầu Loan, Hỷ Đổng ắn mặc giả làm Lương Ngọc vào thăm. Tức thì Hầu Loan sai bắt Hỷ Đống. Hỷ Đồng uống thuốc độc quyên sinh. Lương Ngọc buồn rầu treo cổ tự tử, nhưng được nhà sư cứu thoát. Trần Đông Sơ, em nhà sư và là viên quan bị cách chức, đến viếng chùa. Vì cần người làm vườn, nên Trần công (tức Trấn Đông Sơ) đem Lương Ngọc (lúc này lấy tên là Hỷ Đồng) về nhà.

Hôm giỗ Mai Bá Cao, Trần công nhớ bạn, bày lễ ở ngoài vườn, và khấn bạn rằng: Nếu họ Mai còn dòng dõi thì xin cho hoa mai trong vườn nở đều. Đêm hôm ấy, trời nổi cơn mưa gió, hoa mai rụng sạch. Trần công buồn rầu muốn đi tu. Con gái ông là Hạnh Nguyên khuyên giải, xin khấn cầu lần nữa. Ba hôm sau, hoa mai lại nở đầy trên cây (vì việc này nên mới đặt truyện là Nhị độ mai, nghĩa là cây mai nở hoa hai lần. Đây được coi là một điềm may). Mừng rỡ, Trần cổng sai bày rượu rồi vịnh thơ. Chợt ông thấy ở vách hoa đình có bài thơ của Hỷ Đồng. Hỏi ra mới biết Hỷ Đồng chính là Mai Lương Ngọc, con trai Bá Cao, ông Trần vui mừng khôn xiết.

III. Họ Trần bị hại: Mai Lương Ngọc và Trần Xuân Sinh gặp cảnh lưu ly (từ câu 897 đến câu 1.974):

Giữa lúc ấy, giặc Sa Đà lại ngấp nghé ngoài biên cương. Vốn ghét Trần Đông Sơ, Lư Kỷ tâu vua bắt Hạnh Nguyện đem cống để giặc lui. Trên đường đi cống, Hạnh Nguyên theo gương Chiêu Quân, nhảy xuống sông tự vẫn. May mà trôi giạt vào vườn nhà bà Châu Bá Phù, được nhận làm con nuôi, cùng ở với con gái bà là Vân Anh. Nhân việc ấy, Trần công bị bắt giam, cả nhà bị truy nã. Lương Ngọc cùng với Xuân Sinh (con trai Trần Đông Sơ) chạy trốn. Giữa đường gặp cướp, hai người lạc nhau. Lương Ngọc đổi tên là Mục Vinh, may gặp ông Phùng Lạc Thiên đang trên đường lai kinh phục chức. Được ông Phùng giới thiệu, chàng vào giúp việc cho quan Tuẩn án ở Hồ Nam là Châu Bá Phù. Thấy Lương Ngọc có tài văn chương, mới cho chàng về quê ông để học tập, và định gả con gái ông là Vần Anh cho chàng. Nhân đó, Lương Ngọc gặp được Hạnh Nguyên lúc bấy giờ đang ở nhà bà Châu Bá Phù.

Còn Trần Xuân Sinh lưu lạc khổ sở, nhảy xuống sông tự tử nhưng được nhà thuyền chài cứu thoát, nuôi dưỡng, và hứa sẽ gả con gái là Ngọc Thư cho chàng. Ỷ thế con quan, Giang Khôi bắt Ngọc Thư về làm tì thiếp. Xuân Sinh đi kiện, gặp Khâu Để đốc (em ruột Mai phu nhân, tức cậu Lương Ngọc), được hô Khẩu nhận làm con nuôi (đổi tên là Khâu Khôi), và định gả con gái là Vân Tiên cho Xuân Sinh.

IV. Phe gian thần bị tội: họ Mai và họ Trần được hiển vinh (từ câu 1.975 đến câu 2.780):

Mục Vinh (ương Ngọc) và Khâu Khôi (uân Sinh) đi thi. Một người đỗ Trạng nguyên, một người đỗ Bảng nhãn. Lư Kỷ muốn ~p Khâu Khôi cưới con gái mình, nhưng chàng không chịu. Lư Kỷ bắt Khâu Khôi bỏ ngục. Học trò nổi giận, đón đánh Lư Kỷ và Hoàng Tung, rồi vào chầu vua kể hết tội lộng quyền của hai viên quan này. Vua xét rõ, bèn sai chém cả hai. Cuối cùng, cả hai họ Mai-Trần đều được nhà vua ban thưởng: Mai Bá Cao được truy phong, Trần công được khỏi tù và thăng chức, Lương Ngọc và Xuân Sinh đều được ban chức. Lương Ngọc về đón mẹ, viếng mộ Hỷ Đồng, rôi về kinh làm lễ thành hôn cùng Hạnh Nguyên (vợ chánh) và Vân Anh (vợ thứ). Còn Xuân Sinh thì làm lễ thành hôn với Vân Tiên và Ngọc Thư.

Đoạn trích sau đây nằm ở phần III của tác phẩm

880. Đã xe vào, lại thử rời bắc, nam.

Làm cho chí tái chí tam,

Rồi ra đố lại vào ngàm mới thôi.

Phủ Trần chưa hết chuyện vui,

Bỗng đâu có chỉ đến nơi quan hoài.

Đảng công, Lư Kỷ ngồi ngoài,

Truyền rằng có chỉ dạy đòi Trần gia.

Đọc rồi mới biết rằng là:

Biên quan có nước Sa đà động binh.

Khói lang, bụi ngựa tung hoành.

890. Khuấy hôi cõi Hán, chọc tanh ải Tẩn

Lư công dâng chước hòa thân,

Truyền đòi con gái họ Trần kết thân,

Ban cho áo mũ Chiêu Quân,

Đảng công vâng mệnh đưa chân cõi ngoài.

Nghe ra xiết nỗi bồi hồi,

Ấy ai mưu hiểm, giục người sinh ly

Khởi hành đã định nhật ký,

Lư công giục giã ngận tùy quân sai.

Hạnh Nguyên ra yết nhà ngoài,

900. Ngứa gan tấm tức mấy lời vân vân:

"Vẻ chi một chút Hồ trân,

Những tài thao lược, kinh luân đầu nào?

Dẹp yên mượn sức má đào,

Khen ai đặt để cái mưu cũng già

Kiếp này không xé được da.

Kiếp sau quả báo, oan gia kẻo gì.

Gớm tuồng mộc vị, thần vì,

Mãng thêu hoài chi, đai suy uổng vàng

" Lư công nghe nói ngang tang',

910. Mắt song sọc khóe, mặt sường sượng gân.

Tiên đường dọn tiệc chủ, tân

Cho cùng Trần điệt lên đường xuất quan

Thoắt thôi nghe có lệnh toàn:

Bốn mươi thị nữ dân gian kén rồi.

Trong danh sách bấy nhiêu người,

Cùng ra Phiên quốc theo đòi Hạnh Nguyên.

Lại truyền không được trì diên,

Trong hai ngày hạn xe tiên lên đường,

Áo Hổ đưa lại một rương,

930. Dạy cho nương tử cải trang xuất hành.

Nàng rằng: "Quân minh đã đành,

Tủi mình khuê khôn, liều mình tinh chiên.

Bao giờ khỏi đất Trung nguyên,

Bấy giờ thay áo Hổ phiên vội gì.

Chịu trời chăng! Một chữ thì,

Áo này dù đổi, lòng kia khôn dời!"

Đảng cộng khen đã nên lời,

Cứng lòng, thiết thạch hổ người tu mi.

Thẹn thay cho kẻ vô nghì.

940. Khi này dạ Sở, lúc kia bụng Tần.

Lời trung khêu ruột gian thần,

Bưng tai giả điếc, nổi gân bất bình.

Ngoài thì quan khách linh-đình,

Trong thì nàng cũng đau tình biệt ly.

Lạy hai thân, kể mọi bể,

Châu chan nét liễu, dầm dề giọt mai.

Rằng: "Con chút phận nữ hài,

Công cha nghĩa mẹ chốc mười mấy niên.

Môn mi mong những nhờ duyên,

950. Ngỡ đem tấc cỏ báo đền ba xuân,

Hiểm thay chước kẻ gian-thần,

Xui nên kẻ Tấn, người Tấn như không.

Có ra chi, phận má hồng,

Khôn đem chữ hiếu, đền công chữ cù.

Rồi đây muôn dặm đất Hô,

Biết câu thập nữ viết vô từ rày

Xin đừng nhớ đổi, sầu thay,

Liều bằng muôn một những ngày một hai"

Thoắt thôi sùi sụt ngắn dài,

960. Gập-ghềnh mới ngụ một bài biệt thi.

(Bùi Thức Phước biên soạn, Truyện Nhị độ mai. NXB Hội Nhà văn, 2012)

Câu 1.

Dòng nào nói lên nội dung của văn bản truyện thơ Giã từ gia quyến?

Hạnh Nguyên lưu luyến từ biệt gia đình đi lấy chồng ngoại quốc.
Giặc đến, Lư Kỷ tâu vua bắt Hạnh Nguyên đem cống để giặc lui. Hạnh Nguyên đau buồn từ biệt gia đình.
Gia đình liên hoan tưng bừng tiễn con gái Hạnh Nguyên về nhà chồng.
Hạnh Nguyên oán than, đối mặt tố cáo Lư Kỷ đê hèn.
Đáp án đúng: B

Xem lời giải

Phương pháp giải

Lời giải chi tiết

Để tìm dòng nói lên nội dung của văn bản đạo thơ "Giã từ gia quyến", ta cần phân tích từng phương án:

  1. Phương án A: "Hạnh Nguyên lưu luyến từ biệt gia đình đi lấy chồng ngoại quốc". Phương án này chưa chính xác, vì không chỉ đơn thuần là "lấy chồng ngoại quốc", mà Hạnh Nguyên bị ép gả để cứu quốc.
  2. Phương án B: "Giặc đến, Lư Kỷ tâu vua bắt Hạnh Nguyên đem cống để giặc lui. Hạnh Nguyên đau buồn từ biệt gia đình." Nội dung này đúng với tình tiết trong truyện khi Lư Kỷ âm mưu đẩy Hạnh Nguyên đi làm cống phẩm cho giặc, khiến Hạnh Nguyên phải từ biệt gia đình trong đau buồn. Phương án này là đúng nhất.
  3. Phương án C: "Gia đình liên hoan tưng bừng tiễn con gái Hạnh Nguyên về nhà chồng". Phương án này hoàn toàn chưa chính xác, vì trong ngữ liệu trên, việc Hạnh Nguyên ra đi không phải trong không khí tưng bừng của một cuộc hôn nhân hạnh phúc mà là sự đau buồn xa cách.
  4. Phương án D: "Hạnh Nguyên oán than, đối mặt tố cáo Lư Kỷ đê hèn." Phương án này cũng chưa hoàn toàn chính xác, bởi việc oán than của Hạnh Nguyên không phải là việc công khai tố cáo mà là giằng xé nội tâm và lời lẽ dằn vặt trước khi nàng buộc phải rời bỏ gia đình để làm tròn chữ hiếu.

Vậy, chọn phương án B.

Chú ý khi giải

  • Khi đọc văn bản truyện thơ, cần chú ý đến các yếu tố cốt truyện và nhân vật để hiểu rõ nội dung và ý nghĩa của từng phần văn bản.
  • Phân tích kỹ từng phương án để rút ra điểm đúng và sai, giúp lựa chọn chính xác phương án trả lời.
  • Phải đặt ngữ liệu vào bối cảnh của truyện để tránh hiểu nhầm ý nghĩa của các hành động và tâm trạng của nhân vật.
Câu 2.

Dòng nào nói lên các nhân vật trong văn bản truyện thơ Giã từ gia quyến?

Lư Kỷ, Hạnh Nguyên và sóng thần Hạnh Nguyên.
Trần Đông Sơ, Lư Kỷ, Hạnh Nguyên.
Nhà vua, sứ thần nước ngoài, Hạnh Nguyên.
Hạnh Nguyên và sóng thần Hạnh Nguyên và Hạnh Nguyên và Trần Xuân Sinh.
Đáp án đúng: A

Xem lời giải

Phương pháp giải

Lời giải chi tiết

Để tìm ra được nhân vật trong văn bản truyện thơ "Giã từ gia quyến", chúng ta cần dựa vào tóm tắt và đoạn trích để xác định. Trong đoạn trích và tóm tắt phần III của "Nhị độ mai" đã nêu rõ về các nhân vật như sau:

  • Lư Kỷ: Là kẻ gian thần, người đề xuất việc đem Hạnh Nguyên đi cống.
  • Hạnh Nguyên: Cô gái bị yêu cầu đem đi cống để giao hảo với giặc.
  • Trần Đông Sơ: Là cha của Hạnh Nguyên, bị bức bách bởi âm mưu của Lư Kỷ.

Từ đó có thể thấy, trong các lựa chọn của câu hỏi, lựa chọn B: "Trần Đông Sơ, Lư Kỷ, Hạnh Nguyên" là lựa chọn chính xác khi nói về các nhân vật chủ yếu trong đoạn trích "Giã từ gia quyến".

Đáp án đúng là: B. Trần Đông Sơ, Lư Kỷ, Hạnh Nguyên.

Chú ý khi giải

  • Cần nắm rõ nội dung của tóm tắt và đoạn trích để xác định được các nhân vật trung tâm trong mỗi phần của truyện.
  • Đọc kỹ từng phương án để đối chiếu với thông tin trong ngữ liệu, tránh nhầm lẫn giữa các .
  • Lưu ý rằng nhân vật chính thường là người có vai trò quan trọng và xuất hiện nhiều trong các tình tiết truyện, không phải là những nhân vật phụ hay chỉ xuất hiện trong một hoàn cảnh nhất định.
Câu 3.

Văn bản trên được thuật kể bằng lời của:

Hạnh nguyên
Mẹ Hạnh Nguyên
Lư Kỳ
Người kể chuyện (ngôi thứ 3)
Đáp án đúng: D

Xem lời giải

Phương pháp giải

Lời giải chi tiết

Để trả lời câu hỏi về ngôi kể trong đoạn trích từ tác phẩm Nhị độ mai, chúng ta cần phân tích ngữ liệu để xác định người phát ngôn. Đoạn trích từ câu 880 đến câu 960 là một phần của truyện thơ nôm, và văn bản tuân thủ các đặc điểm của ngôi thứ ba, người kể chuyện giấu mặt không xuất hiện trực tiếp trong câu chuyện.

Phân tích các lựa chọn:

  1. Hạnh Nguyên: Trong đoạn trích không có dấu hiệu cho thấy nhân vật Hạnh Nguyên đang tự kể lại câu chuyện. Đoạn trích chủ yếu mô tả sự kiện và nội tâm của nàng thông qua cách kể của một người ngoài cuộc.
  2. Mẹ Hạnh Nguyên: Tương tự, mẹ của Hạnh Nguyên cũng không xuất hiện trực tiếp trong văn bản là người kể chuyện.
  3. Lư Kỷ: Lư Kỷ là nhân vật trong truyện nhưng không phải là người thuật chuyện các sự kiện đã xảy ra.
  4. Người kể chuyện (ngôi thứ 3): Đây là cách thức phổ biến trong các tác phẩm truyện Nôm, khi người kể chuyện là một người ngoài cuộc thuật lại toàn bộ sự việc xảy ra và miêu tả tâm trạng, hành động của các nhân vật. Văn bản cho thấy cách kể của người kể chuyện ngôi thứ 3, người có khả năng tường thuật toàn diện về sự kiện và mô tả tâm lý nhân vật mà không hề can thiệp vào câu chuyện.

Đáp án đúng là D: Người kể chuyện (ngôi thứ 3)

Chú ý khi giải

Khi giải các bài tập liên quan đến ngôi kể chuyện, các em cần chú ý:

  • Nắm vững đặc điểm của từng ngôi kể để có thể phân biệt dễ dàng. Ngôi thứ nhất thường là khi một nhân vật trong truyện kể về sự việc mà mình trực tiếp tham gia. Ngôi thứ ba thường có sự quan sát toàn diện và không phải là một nhân vật trong truyện.
  • Lưu ý đến ngữ điệu tổng thể của văn bản để xác định giọng điệu của người kể chuyện.
  • Đọc kỹ đề bài và ngữ liệu để không bị nhầm lẫn giữa giọng người kể và lời của các nhân vật trong tác phẩm.
Câu 4.

Dòng thơ Bỗng đâu có chỉ đến nơi quan hoài nói lên điều gì?

Tình huống đến với gia đình Lư Kỷ.
Trát quan đến gia đình Trấn Đông Sơ.
Tình huống đến với gia đình Trần Đông Sơ.
Hạnh Nguyên gặp tai nạn.
Đáp án đúng: B

Xem lời giải

Phương pháp giải

Lời giải chi tiết

Để giải quyết câu hỏi "Dòng thơ Bỗng đâu có chỉ đến nơi quan hoài nói lên điều gì?", chúng ta cần phân tích nội dung đoạn trích và ngữ cảnh của dòng thơ.

Phân tích:

- Dòng thơ này nằm trong phần III của tác phẩm "Nhị độ mai", tường thuật về giai đoạn họ Trần bị hại và Mai Lương Ngọc cùng Trần Xuân Sinh gặp cảnh lưu ly.

- Nội dung đoạn trích cho thấy Lư Kỷ, một trong các gian thần, đã lập mưu để nhà vua ra chỉ đưa con gái họ Trần, tức Hạnh Nguyên, đi cống giặc Sa Đà. Vì vậy, chỉ "đến nơi quan hoài" chính là mệnh lệnh của vua được truyền đến gia đình họ Trần.

- "Quan hoài" ở đây chỉ các mệnh lệnh quan trọng từ triều đình, mà trong trường hợp này là yêu cầu đưa Hạnh Nguyên đi để hòa thân với giặc.

Lập luận:

  • Lựa chọn A "Tình huống đến với gia đình Lư Kỷ" không đúng, vì dòng thơ đề cập tới chuyện liên quan đến họ Trần, không phải họ Lư.
  • Lựa chọn B "Trát quan đến gia đình Trấn Đông Sơ" và lựa chọn C "Tình huống đến với gia đình Trần Đông Sơ" đều liên quan đến họ Trần, trong đó C rõ ràng hơn vì "Trần Đông Sơ" không có lỗi đánh máy so với "Trấn Đông Sơ".
  • Lựa chọn D "Hạnh Nguyên gặp tai nạn" không chính xác, vì câu thơ không nói về tai nạn mà diễn tả mệnh lệnh từ vua.

Vì vậy, phương án chính xác là:

C. Tình huống đến với gia đình Trần Đông Sơ.

Chú ý khi giải

Khi giải quyết các câu hỏi về văn học, hãy chú ý đến ngữ cảnh của đoạn trích và mối liên hệ giữa các nhân vật, sự kiện trong tác phẩm.

Cần cẩn thận với những lỗi chính tả hoặc lỗi đánh máy trong ngữ liệu, điều này có thể dẫn đến sự hiểu lầm.

Nắm rõ phần tóm tắt nội dung toàn bộ tác phẩm có thể giúp bạn hiểu sâu hơn tình tiết của từng đoạn trong tác phẩm.

Câu 5.

Hai dòng thơ: Đã xe vào, lại thử rời bắc, nam/Làm cho chí tái chí tam là lời của ai, nói về điều gì?

Lời người kể chuyện, nói hoạn nạn của nhà Đông Sơ.
Lời của Lư Kỷ, nói sẽ trừng phạt Trần Đông Sơ.
Lời của Hạnh Nguyên, oán than cuộc đời.
Lời của mẹ Hạnh Nguyên, than cho số phận con gái.
Đáp án đúng: A

Xem lời giải

Phương pháp giải

Lời giải chi tiết

Khi đọc ngữ liệu từ "Truyện Nhị độ mai" được nêu trong bài, chúng ta thấy bối cảnh câu chuyện xoay quanh các nhân vật chính trị của nhà Mai và nhà Trần. Đoạn trích phần III tập trung vào việc họ Trần và sự kiện khó khăn mà họ phải chịu đựng do âm mưu của gian thần Lư Kỷ.

Với hai dòng thơ đầu tiên trong đoạn trích: "Đã xe vào, lại thử rời bắc, nam/Làm cho chí tái chí tam", chúng ta cần hiểu ngữ cảnh và ai là người đang nói. Đoạn trích này nằm trong bối cảnh khi Lư Kỷ cố tình dùng âm mưu để gây bất lợi cho nhà Trần nhằm phục vụ lợi ích cá nhân.

Phân tích từng phương án:

  • A. Lời người kể chuyện, nói hoạn nạn của nhà Đông Sơ: Câu thơ "Đã xe vào, lại thử rời bắc, nam" mang tính bao quát và khách quan về hoàn cảnh mà nhà Đông Sơ đang gặp phải, có xu hướng là lời của người kể chuyện, chứ không phải của một nhân vật cụ thể trong truyện.
  • B. Lời của Lư Kỷ, nói sẽ trừng phạt Trần Đông Sơ: Lư Kỷ là kẻ chủ mưu trong âm mưu, nhưng hai dòng thơ này không phải lời của Lư Kỷ, mà nói về thực trạng sự phân ly, không phải là ý định chủ động nào.
  • C. Lời của Hạnh Nguyên, oán than cuộc đời: Mặc dù Hạnh Nguyên có lời oán than ở các đoạn khác, hai câu thơ này không thể hiện rõ là lời của Hạnh Nguyên.
  • D. Lời của mẹ Hạnh Nguyên, than cho số phận con gái: Không có ngữ liệu nào trong đoạn trích cho thấy mẹ Hạnh Nguyên nói những lời này.

Vì vậy, lựa chọn hợp lý nhất là:

Đáp án: A. Lời người kể chuyện, nói hoạn nạn của nhà Đông Sơ.

Chú ý khi giải

- Đọc kỹ đoạn trích để hiểu ngữ cảnh và các nhân vật liên quan, tránh nhầm lẫn về người nói hoặc hoàn cảnh đang diễn ra trong tác phẩm.

- Chú ý đến giọng điệu và cách xưng hô để phân biệt lời nhân vật và lời của người kể chuyện.

- Khi chọn phương án đúng, cần phân tích kỹ lưỡng từng đáp án và loại trừ các phương án không hợp lý dựa trên phân tích ngữ liệu.

Câu 6.

Những câu thơ sau là lời của ai, thể hiện điều gì?

Vẻ chi một chút Hồ trần,

Những tài thao lược, kinh luân đâu nào?

Dẹp yên mượn sức má đào,

Lời của người kể chuyện, thể hiện thái độ vui vẻ.
Lời của Hạnh Nguyên thể hiện sự coi thường quan võ.
Lời của Lư Kỷ tự khen mưu kế của mình.
Lời của Hạnh Nguyên khinh bỉ bọn quan lại.
Đáp án đúng: B

Xem lời giải

Phương pháp giải

Lời giải chi tiết

Để giải quyết câu hỏi này, chúng ta cần xác định ngữ cảnh của đoạn trích và phân tích từng phương án để tìm ra đáp án đúng nhất.

Trong đoạn trích từ câu 900: "Vẻ chi một chút Hồ trần..." là lời nói của một nhân vật, và chúng ta phải xác định đó là của ai và thái độ, ý nghĩa mà nó thể hiện.

Phân tích từng phương án:

  • A. Lời của người kể chuyện, thể hiện thái độ vui vẻ.
    Lời nói trong đoạn trích này không phải của người kể chuyện, mà là của một nhân vật cụ thể. Thái độ thể hiện cũng không phải là vui vẻ mà mang sự khinh thường.
  • B. Lời của Hạnh Nguyên thể hiện sự coi thường quan võ.
    Xét ngữ cảnh trong toàn bộ đoạn trích, lời nói này thuộc về Hạnh Nguyên. Hạnh Nguyên phẫn uất vì bị ép gả làm con tin hòa thân với giặc, và qua câu nói này, nàng thể hiện sự cợt nhả, coi thường khả năng giải quyết vấn đề của quan lại trong triều đình, bởi thay vì sử dụng võ biện pháp giải quyết xâu trong, họ lại dùng đến kế hiểm nhờ người đẹp làm giải pháp hòa bình.
  • C. Lời của Lư Kỷ tự khen mưu kế của mình.
    Thực chất, Lư Kỷ không phải người nói câu này, mà chính là Hạnh Nguyên chỉ trích kế sách xuất thân của Lư Kỷ cùng bọn quan lại.
  • D. Lời của Hạnh Nguyên khinh bỉ bọn quan lại.
    Đây là một lựa chọn khá chỉnh xác, vì Hạnh Nguyên thực sự bộc lộ sự khinh bỉ đối với bọn quan lại, đặc biệt là mưu kế của Lư Kỷ.

Vậy, đáp án chính xác là D. Lời của Hạnh Nguyên khinh bỉ bọn quan lại.

Chú ý khi giải

Khi giải dạng bài này, học sinh cần chú ý:

  • Xác định rõ ngữ cảnh của đoạn trích, hiểu nội dung và ý nghĩa của mỗi câu thơ.
  • Chú ý tới chủ ngữ (người nói) và nội dung, thái độ mà lời nói của họ thể hiện.
  • Loại trừ các phương án một cách cẩn thận, bám sát vào ngữ liệu đã cho.
  • Hiểu ý nghĩa câu nói dựa trên tình huống truyện và diễn biến tâm lý nhân vật để lựa chọn đáp án chính xác nhất.
Câu 7.

Hai dòng thơ: Ngoài thì quan khách linh đình/Trong thì nàng cũng đau tình biệt ly, diễn tả điều gì, bằng thủ pháp nghệ thuật nào?

Cảnh chia tay buồn bã ở gia đình Hạnh Nguyên bằng từ láy.
Cảnh buồn đau của gia đình Hạnh Nguyên bằng thủ pháp đối lập.
Tâm trạng đau đớn phút ly biệt của Hạnh Nguyên bằng thủ pháp đối lập.
Tâm trạng đau đớn phút ly biệt của Hạnh Nguyên bằng nghệ thuật tiểu đối.
Đáp án đúng: C

Xem lời giải

Phương pháp giải

Lời giải chi tiết

Để xác định đáp án đúng, chúng ta phân tích từng phương án một:

  • Phương án A: Cảnh chia tay buồn bã ở gia đình Hạnh Nguyên bằng từ láy.

    Cần lưu ý rằng từ "ngoài" và "trong" không phải là từ láy và hai câu này mô tả tình cảnh trái ngược, không phải chỉ có cảnh buồn bã.

  • Phương án B: Cảnh buồn đau của gia đình Hạnh Nguyên bằng thủ pháp đối lập.

    Câu thơ mô tả sự đối lập giữa không khí bên ngoài náo nhiệt và tâm trạng bên trong buồn bã của Hạnh Nguyên, tuy nhiên câu này không chỉ nhấn mạnh cảnh buồn của cả gia đình.

  • Phương án C: Tâm trạng đau đớn phút ly biệt của Hạnh Nguyên bằng thủ pháp đối lập.

    Câu thơ thể hiện sự đối lập giữa "ngoài quan khách linh đình" - tức là không khí ngoài vui vẻ, và "trong cũng đau tình biệt ly" - tức là tâm trạng đau khổ của Hạnh Nguyên.

  • Phương án D: Tâm trạng đau đớn phút ly biệt của Hạnh Nguyên bằng nghệ thuật tiểu đối.

    Nghệ thuật tiểu đối chỉ là một phần của cách đối lập, tuy nhiên tiểu đối không phải là từ chuẩn để diễn tả đầy đủ.

=> Đáp án đúng là C: Tâm trạng đau đớn phút ly biệt của Hạnh Nguyên bằng thủ pháp đối lập.

Chú ý khi giải

  • Phân biệt các phương pháp nghệ thuật: từ láy, đối lập, tiểu đối.
  • Chú ý đến nội dung từng câu thơ để chọn đáp án chính xác nhất.
  • Hiểu rõ bối cảnh câu chuyện từ ngữ liệu để nắm chắc tâm trạng nhân vật.
  • Các phương pháp nghệ thuật như đối lập giúp tăng thêm sắc thái biểu cảm cho đoạn thơ.
Câu 8.

Hạnh Nguyên nói với ai về điều gì trong câu thơ: Có ra chi, phận má hồng/ Khôn đem chữ hiếu, đền công chữ cù?

Tự nói với lòng mình về chữ hiếu.
Nói với cha mẹ: thương cha mẹ, sinh ra con khó nhọc mà con chưa đền ơn.
Nói với Lư Kỷ: nhà ngươi khiến ta thành con bất hiếu.
Nói với bạn trong phút biệt ly: giúp mình báo hiếu cha mẹ.
Đáp án đúng: B

Xem lời giải

Phương pháp giải

Lời giải chi tiết

Phân tích đề bài:

Đề bài yêu cầu tìm hiểu ý nghĩa của câu thơ "Có ra chi, phận má hồng/ Khôn đem chữ hiếu, đền công chữ cù" trong đoạn trích từ "Truyện Nhị độ mai". Câu hỏi này liên quan đến việc xác định đối tượng mà nhân vật Hạnh Nguyên đang nói trong câu thơ đó và thông điệp mà cô ấy muốn truyền tải. Đề bài cho bốn lựa chọn và yêu cầu chọn đáp án đúng nhất.

Lập luận phân tích từng phương án:

Phương án A: Tự nói với lòng mình về chữ hiếu.
Thông qua tâm tình của Hạnh Nguyên, có thể thấy cô nói về sự bất lực của mình trong việc báo hiếu cha mẹ. Tuy nhiên, câu thơ này có vẻ như không hoàn toàn chỉ là sự tự nhủ mà còn có ý tứ trực tiếp đối với một ai đó.

Phương án B: Nói với cha mẹ: thương cha mẹ, sinh ra con khó nhọc mà con chưa đền ơn.
Hạnh Nguyên đang cảm thấy hụt hẫng vì không thể trả được công ơn cha mẹ do mình phải đền tội cho người khác. Câu nói chứa đựng cảm xúc dành cho cha mẹ hơn là chỉ tự nói với mình.

Phương án C: Nói với Lư Kỷ: nhà ngươi khiến ta thành con bất hiếu.
Câu thơ này thể hiện sự đau khổ của Hạnh Nguyên với tình cảnh hiện tại và điều này không có dấu hiệu cho thấy sự trách móc trực tiếp Lư Kỷ.

Phương án D: Nói với bạn trong phút biệt ly: giúp mình báo hiếu cha mẹ.
Câu thơ thể hiện bản thân Hạnh Nguyên về việc báo hiếu, chứ không phải nhờ bạn giúp đỡ.

Kết luận:

Đáp án đúng là phương án B.

Chú ý khi giải

Khi giải các dạng bài tương tự, cần lưu ý:

  • Hiểu rõ bối cảnh, đối tượng và mục đích tác giả hoặc nhân vật muốn truyền đạt trong từng câu, đoạn thơ.
  • Các câu thơ thường có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, do đó, cần điều tra kết hợp cả ngữ cảnh và nội dung bao quanh để đưa ra đáp án chính xác nhất.
Câu 9.

Chủ đề của văn bản đọc Giã từ gia quyến là:

Xót thương cho phận gái trong cảnh loạn li
Tố cáo bộ mặt quan lại bất tài.
Lột trần bộ mặt giả dối của Lư Kỷ.
Xót thương gia cảnh của Trần Đông Sơ.
Đáp án đúng: A

Xem lời giải

Phương pháp giải

Lời giải chi tiết

Để tìm ra chủ đề chính xác của đoạn trích "Giã từ gia quyến" trong tác phẩm "Truyện Nhị độ mai", chúng ta cần phân tích nội dung và tình huống trong đoạn trích:

  • Đoạn trích mô tả cảnh Hạnh Nguyên, con gái của gia đình họ Trần, bị ép gả để kết thân hữu với nước Sa Đà. Cô phải từ biệt gia đình và chịu nhiều đắng cay, đau khổ.
  • Qua lời thổ lộ của Hạnh Nguyên, ta thấy rõ nỗi đau đớn của cô khi phải rời xa gia đình, cùng với sự bất bình với âm mưu hiểm ác của Lư Kỷ và những kẻ gian thần khác.
  • Hạnh Nguyên tỏ rõ sự đau khổ và xót xa cho thân phận con gái trong hoàn cảnh phải hy sinh hạnh phúc, tình yêu cá nhân vì mục đích chính trị.

Dựa trên nội dung và ngữ cảnh, phương án A - Xót thương cho phận gái trong cảnh loạn lạc chính là chủ đề của văn bản.

Phân tích các đáp án:

  1. A - Xót thương cho phận gái trong cảnh loạn li: Phù hợp với nội dung khi Hạnh Nguyên phải chịu cảnh chia lìa, đau khổ vì bị ép gả làm con tin.
  2. B - Tố cáo bộ mặt quan lại bất tài: Mặc dù có nhắc đến các quan lại như Lư Kỷ, nhưng trọng tâm của đoạn không phải là sự tố cáo sự bất tài của quan lại.
  3. C - Lột trần bộ mặt giả dối của Lư Kỷ: Tuy có đề cập đến âm mưu của Lư Kỷ, nhưng đoạn trích không tập trung vào việc lột trần bộ mặt của hắn, mà nhấn mạnh vào nỗi đau của Hạnh Nguyên.
  4. D - Xót thương gia cảnh của Trần Đông Sơ: Đoạn trích không chỉ tập trung vào gia cảnh của Trần Đông Sơ mà nhấn mạnh vào nỗi đau của Hạnh Nguyên.

Chú ý khi giải

  • Đọc kỹ ngữ liệu và xác định rõ ngữ cảnh, sự kiện nổi bật trong đoạn trích để tìm ra thông điệp hoặc chủ đề chính.
  • Phân tích các phương án đưa ra xoay quanh nội dung cốt lõi đã xác định, từ đó lựa chọn phương án chính xác nhất.
  • Lưu ý sự khác biệt giữa các phương án, một số phương án có thể đúng một phần nhưng không bao quát đầy đủ nội dung cần nhấn mạnh của đoạn trích.
Câu 10.

Văn bản Giã từ gia quyến đề cao những phẩm chất nào của con người?

Lòng thương người.
Nghị lực vượt qua khó khăn.
Người con hiếu thảo
Sự chung thủy trong tình yêu.
Đáp án đúng: C

Xem lời giải

Phương pháp giải

Lời giải chi tiết

Khi đọc đoạn trích "Giã từ gia quyến" trong tác phẩm "Nhị độ mai", ta thấy nhân vật Hạnh Nguyên đang phải đối mặt với một tình huống khó khăn khi phải rời xa gia đình để thực hiện cuộc "hòa thân". Trong những lời giã từ gia quyến, cô dâu trẻ thể hiện sự hiếu thảo với cha mẹ, oán trách số phận và buộc phải chấp nhận một cuộc chia ly không mong muốn.

Từ nội dung này, chúng ta có thể phân tích các phương án và đánh giá phù hợp như sau:

  1. A. Lòng thương người: Không phù hợp với ngữ liệu này vì không có mối quan hệ với tình huống cụ thể của đoạn trích, nơi tình cảm gia đình là chủ yếu.
  2. B. Nghị lực vượt qua khó khăn: Có một phần thể hiện, nhưng chưa thật sự rõ nét như sự hiếu thảo và trách nhiệm.
  3. C. Người con hiếu thảo: Phù hợp nhất với nội dung ngữ liệu. Hạnh Nguyên thể hiện sự hiếu thảo, lòng biết ơn đối với công ơn sinh thành của cha mẹ và nỗi đau khi phải rời xa gia quyến.
  4. D. Sự chung thủy trong tình yêu: Không đúng vì ngữ liệu không nhấn mạnh đến yếu tố tình yêu chung thủy, mà là tình cảm gia đình.

Do đó, đáp án đúng là C. Người con hiếu thảo.

Chú ý khi giải

  • Cần đọc kỹ và nắm bắt nội dung cụ thể của đoạn trích để hiểu rõ bối cảnh và thông điệp cốt lõi.
  • Nên định rõ ý nghĩa của những từ khóa chính trong các lựa chọn để tránh hiểu lầm trong quá trình lựa chọn đáp án.
  • Đặc biệt chú ý đến tâm lý và hoàn cảnh của nhân vật trong ngữ liệu để làm rõ phẩm chất được nhấn mạnh.
Câu 11.

Dòng nào nói lên nghệ thuật khắc họa nhân vật trong văn bản đọc trên?

Đối thoại, cử chỉ ngoại hình của nhân vật.
Qua nhận xét của người kể chuyện.
Diễn tả tâm trạng nhân vật (Lời người kể chuyện, lời nhân vật).
Qua lời nói, hành động của nhân vật.
Đáp án đúng: C

Xem lời giải

Phương pháp giải

Lời giải chi tiết

Để trả lời câu hỏi: "Dòng nào nói lên nghệ thuật khắc họa nhân vật trong văn bản đọc trên?" ta cần phân tích các phương án:

  • Phương án A: Đối thoại, cử chỉ ngoại hình của nhân vật. - Phương án này đề cập đến cách khắc họa nhân vật qua lời thoại và ngoại hình, cụ thể là các hành động, cử chỉ.
  • Phương án B: Qua nhận xét của người kể chuyện. - Phương án này chỉ đến việc người kể chuyện trực tiếp đưa ra những nhận xét, đánh giá về nhân vật trong truyện.
  • Phương án C: Diễn tả tâm trạng nhân vật (Lời người kể chuyện, lời nhân vật). - Phương án này nói về việc thể hiện cảm xúc, tâm trạng của nhân vật thông qua lời kể của tác giả và lời nhân vật.
  • Phương án D: Qua lời nói, hành động của nhân vật. - Phương án này là mô tả khắc họa nhân vật thông qua lời nói và hành động của nhân vật trong văn bản.

Trong đoạn trích trên, sự khắc họa nhân vật được thể hiện chủ yếu qua tâm trạng của Hạnh Nguyên, sự phẫn nộ và dũng cảm đối diện với những âm mưu của Lư Kỷ. Những lời nói, cử chỉ đầy tự tin thể hiện rõ ràng bản lĩnh và tâm trạng nhân vật.

Vì vậy, phương án đúng là Phương án C: Diễn tả tâm trạng nhân vật (Lời người kể chuyện, lời nhân vật) vì có sự miêu tả cả tâm trạng và cảm xúc của Hạnh Nguyên qua lời nói của chính nhân vật và qua sự diễn tả tâm trạng tiêu biểu trong đoạn hội thoại.

Chú ý khi giải

  • Phân biệt rõ các phương án miêu tả nhân vật, chú ý đến việc so sánh giữa lời nói, cử chỉ và tâm trạng nội tâm của nhân vật.
  • Lưu ý đến ngữ cảnh và cách triển khai nhân vật trong truyện để xác định đúng thuật khắc họa nhân vật được sử dụng chủ yếu.
  • Trong các bài làm văn về truyện, cần phân tích đầy đủ và rõ ràng các yếu tố nghệ thuật để đưa ra nhận định chính xác.
Câu 12.

Dòng nào nói lên cảm xúc chủ đạo của văn bản đọc?

Căm giận
Thương cảm
Trân trọng
Yêu thương
Đáp án đúng: B

Xem lời giải

Phương pháp giải

Lời giải chi tiết

Để tìm dòng nói lên cảm xúc chủ đạo của văn bản, chúng ta cần phân tích nội dung đoạn trích. Đoạn trích chủ yếu xoay quanh việc Hạnh Nguyên buộc phải lên đường đi cống để cầu hòa. Cảm xúc của Hạnh Nguyên thể hiện rõ sự căm giận đối với việc phải hi sinh bản thân cho âm mưu của gian thần và đau đớn vì cảnh chia ly.

Cảm xúc ở đoạn trích này nổi bật là sự căm giận đối với sự bất công, gian trá của Lư Kỷ và những kẻ đồng mưu. Điều này thể hiện qua các câu như "Kiếp này không xé được da, kiếp sau quả báo, oan gia kẻo gì", "Khôn đem chữ hiếu, đền công chữ cù". Sự căm giận còn thể hiện qua sự tự trào "Khen ai đặt để cái mưu cũng già".

⇒ Cảm xúc chủ đạo của văn bản đọc là căm giận.

Chọn đáp án: A. Căm giận.

Chú ý khi giải

  • Nên đọc kỹ nội dung đoạn trích để hiểu rõ hoàn cảnh và cảm xúc của nhân vật trong bối cảnh lịch sử cụ thể - đây là một phần quan trọng để xác định cảm xúc chủ đạo.
  • Chú ý đến các từ ngữ mang tính biểu cảm cao như "bồi hồi", "xiết nỗi", "bồi hồi", "tấm tức mà kết hợp với cách trình bày của nhân vật để nhận ra cảm xúc chủ đạo.
  • Cần phân biệt giữa các cảm xúc khác nhưng không phải là chủ đạo, ví dụ như thương cảm và trân trọng, vì chúng có thể dễ gây nhầm lẫn nếu không phân tích kỹ.”
Câu 13.

Văn bản Giã từ gia quyến kể về việc gì? Văn bản có những nhân vật nào, ai là nhân vật chính (0.5đ)

Xem lời giải

Phương pháp giải

Lời giải chi tiết

- Kể về việc gia đình Trấn Đông Sơ vốn bị Lư Kỷ tâu ghét nên hắn đã nhân cơ hội giặc Sa Đà lại ngấp nghé ngoài biên cương để tâu vua bắt Hạnh Nguyên đem cống để giặc lui. Hạnh nguyên đau đớn từ biệt gia đình để lên đường.

- Gồm các nhân vật: Lư Kỷ, Hạnh Nguyên và sóng thân Hạnh Nguyên và Hạnh Nguyên là nhân vật chính.

Chú ý khi giải

Câu 14.

Mười câu thơ đầu kể về sự việc gì, bằng lời của ai? Những từ ngữ bỗng đâu, làm cho chí tái chí tam diễn tả điều gì? (1.0đ)

Xem lời giải

Phương pháp giải

Lời giải chi tiết

- Kể việc gia đình Trần Đông Sơ (cha của Hạnh Nguyên ) nhận chỉ của vua về việc có liên quan đến biên ải bằng lời của người kể chuyện (ngôi thứ 3)

Những từ ngữ bỗng đâu, làm cho chí tái chí tam diễn tả:

+ Sự việc xảy ra với gia đình Trần Đông Sơ rất bất ngờ

+ Đời trớ trêu đã đầy ải, làm khổ con người phải đến 2, 3 lần mới thôi.

+ Thể hiện cả nỗi ai oán, xót thương cho tình cảnh nhà Trần Đông Sơ

Chú ý khi giải

Câu 15.

Phân tích nét đặc sắc về nội dung, cảm xúc và thủ pháp nghệ thuật trong những câu thơ sau: (1.5đ)

Ngoài thì quan khách linh đình,

Trong thì nàng cũng đau tình biệt ly.

Lạy hai thân, kể mọi bề,

Châu chan nét liễu, dầm dề giọt mai.

Rằng: "Con chút phận nữ hài,

Công cha nghĩa mẹ chốc mười mấy niên.

Xem lời giải

Phương pháp giải

Lời giải chi tiết

- Nội dung: Cảnh đau buồn ly biệt của Hạnh Nguyên. Nàng lạy song thân và nói trong nước mắt rằng con trẻ đã phụ công cha mẹ sinh dưỡng

- Cảm xúc: buồn đau, nỗi buồn ly biệt bao trùm không gian, chỉ có nước mắt và những lời biệt ly đau đớn tột cùng

- Nghệ thuật:

+ Đối lập tương phản: ngoài tiệc linh đình >< trong đau tình biệt li -> nỗi đau phải giấu, gói vào tâm can

+ Gieo vần của thơ lục bát: đình -tình; bể- để khiến cho nỗi buồn biệt ly kéo dài miên man không dứt

+ Nghệ thuật tiểu đối, từ gần nghĩa, nghệ thuật ẩn dụ (châu chấu - giọt mai):

Châu chan nét liễu, dầm dề giọt mai gợi tả cảnh đau buồn, nước mắt tuôn rơi, lệ thấm vào lòng người vào không gian... đâu đâu cũng là nỗi buồn ly biệt của cô gái - người con yêu cha mẹ bị đày ải nơi xa... tình cảm xiết bao đau đớn, xót xa...

Chú ý khi giải

Câu 16.

Hạnh Nguyên là con người như thế nào? Hãy phân tích một số câu thơ tiêu biểu làm rõ điều đó. Từ đó, nhận xét tình cảm, thái độ của tác giả dành cho nhân vật này? (1,5đ)

Xem lời giải

Phương pháp giải

Lời giải chi tiết

- Là người khẳng khái, dám thể hiện thái độ của mình đối với qian võ, đối với

Lư Kỷ:

+ Vẻ chi một chút Hồ trần/Những tài thao lược, kinh luân đâu nào Dẹp yên mượn sức má đào/Khen ai đặt để cái mưu cũng già

-> Các từ ngữ má đào, vẻ chi, thao lược, kinh luân, khen cho thể hiện rõ thái độ của Hạnh Nguyên: có bọn giặc nhỏ mà phải mượn phận gái để chống đỡ, khen cho mưu già, mưu cao. Và mỉa mai Những tài thao lược, kinh luân đâu hết rồi ??? Quan tướng hèn nhát phải trốn để đấy thẩn gái ra "đỡ đạn"

- Là người con gái hiếu thảo: thân mình phải đi cống giặc nhưng nàng chỉ lo thương bố mẹ đã già bao công nuôi dưỡng con mà nay không được nhờ vả chút gì... (Có ra chi, phận má hồng Khôn đem chữ hiếu, đền công chữ cù)

- Nàng đau khổ khi phải nghĩ cha mẹ sinh ra mình, có cũng như không: Rồi đây muôn dặm đất Hồ/ Biết câu thập nữ viết vô từ rày

- Không báo hiếu được cha mẹ, phải sống xa cha mẹ, Hạnh Nguyên vô cùng đau buồn

(Châu chan nét liễu, dầm dề giọt mai; Ngỡ đem tấc cỏ báo đền ba xuân; Châu chan nét liễu, dầm dề giọt mai.)

- Nàng giàu tình cảm nhưng cũng là người mạnh mẽ: khóc than, buồn tủi, nhưng gạt nước mắt đọc thơ từ biệt song thân (Thoắt thôi sùi sụt ngắn dài/Gập ghềnh mới ngụ một bài biệt thi)

-> Tác giả đông cảm, xót thương cho cảnh ngộ của Hạnh Nguyên, cho thân gái mỏng manh mà phải mang đi cầu hòa trong buổi tao loạn; ngợi ca, trân trọng những phẩm chất đáng quý của cô gái, quên thân mình chỉ hướng về song thân.

Chú ý khi giải

Câu 17.

Tác giả diễn tả tình cảnh gia đình, tâm trạng đau đớn của Hạnh Nguyên khi lên đường cống giặc nhằm mục đích gì? Từ đó, hãy nhận xét thái độ của tác giả đối với chiến tranh. (2.0đ)

Xem lời giải

Phương pháp giải

Lời giải chi tiết

- Nhằm mục đích tố cáo chiến tranh, tố cáo bọn quan lại đớn hèn, bày tỏ nỗi xót thương vô cùng cho thân phận những cô gái như Hạnh Nguyên: nhân gái liễu yếu lại phải gánh vác việc giang sơn.

- Thái độ của tác giả đối với chiến tranh: căm ghét chiến tranh, phản đối chiến tranh đã gây ra cuộc tao loạn, đẩy bao người vào cảnh sầu thảm, sống trong li biệt, tha hương.

+ Biên quan có nước Sa đà động binh. Khoai lang, bụi ngựa tung hoành. Khuấy hôi cõi Hán, chọc tanh ải Tần.

+ Khi này dạ Sở, lúc kia bụng Tần. Lời trung khêu ruột gian thần, Bưng tai giả điếc, nổi gân bất bình.

Chú ý khi giải