Đọc ngữ liệu sau và thực hiện để 2A, 2B
GIÃ TỪ GIA QUYẾN
(Truyện Nhị độ mai)
Tóm tắt Truyện Nhị độ mai
Nhị độ mai là truyện Nôm khuyết danh của Việt Nam, biên soạn theo cuốn tiểu thuyết Trung Quốc Trung hiếu tiết nghĩa nhị độ mai. Nhị độ mai nghĩa là hoa mai nở hai lần, trong truyện có chép việc ấy coi là một điềm hay. Theo nhà nghiên cứu văn học Dương Quảng Hàm thì truyện được chia làm 4 hồi:
Họ Mai bị gia thần làm hại (từ câu 15 đến câu 574):
Về đời Đường Đức Tông, có Mai Bá Cao làm quan ở huyện Lịch Thành, nổi tiếng là người thanh liêm trung trực. Ông có người con trai tên là Mai Bích, tự là Lương Ngọc. Vốn căm ghét phe gian thần Lư Kỷ, Hoàng Trung, nên khi được vua triệu về kinh làm Lại khoa cấp sự, Bá Cao quyết tâm sẽ vạch tội bất lương
của họ để trừ hại cho dân. Khi đến kinh, ông đến yết kiến Lư Kỷ. Một viên quan hầu của tướng phủ đòi tiền lễ trình, ông mắng rồi không vào. Ít lầu sau, trong bữa tiệc mừng thọ Lư Kỷ, bất đắc di ông phải đến mừng, những lễ vật chỉ có cân miến và cây sáp. Trong khi tiếp chuyện, Bá Cao đem chuyện cũ ra chỉ trích Lư Kỷ và Hoàng Tung và từ chối không uống rượu.
Lư Kỷ tìm cách hãm hại, Bá Cao vào tội trì hoãn việc binh, tạo cơ hội cho giặc.
Nhà vua ra lệnh chém đầu Bá Cao và truy nã cả nhà ông.
Mai Lương Ngọc nương náu ở nhà họ Trần (từ câu 475 đến câu 878):
Nhận được tin dữ, Mai phu nhân (vợ Bá Cao) đến nhà em ở Sơn Đông ẩn náu, còn Mai Lương Ngọc (con trai Bá Cao) cùng người hầu là Hỷ Đồng chạy sang nhà Hầu Loan, là cha vợ chưa cưới. Muốn thử bụng Hầu Loan, Hỷ Đổng ắn mặc giả làm Lương Ngọc vào thăm. Tức thì Hầu Loan sai bắt Hỷ Đống. Hỷ Đồng uống thuốc độc quyên sinh. Lương Ngọc buồn rầu treo cổ tự tử, nhưng được nhà sư cứu thoát. Trần Đông Sơ, em nhà sư và là viên quan bị cách chức, đến viếng chùa. Vì cần người làm vườn, nên Trần công (tức Trấn Đông Sơ) đem Lương Ngọc (lúc này lấy tên là Hỷ Đồng) về nhà.
Hôm giỗ Mai Bá Cao, Trần công nhớ bạn, bày lễ ở ngoài vườn, và khấn bạn rằng: Nếu họ Mai còn dòng dõi thì xin cho hoa mai trong vườn nở đều. Đêm hôm ấy, trời nổi cơn mưa gió, hoa mai rụng sạch. Trần công buồn rầu muốn đi tu. Con gái ông là Hạnh Nguyên khuyên giải, xin khấn cầu lần nữa. Ba hôm sau, hoa mai lại nở đầy trên cây (vì việc này nên mới đặt truyện là Nhị độ mai, nghĩa là cây mai nở hoa hai lần. Đây được coi là một điềm may). Mừng rỡ, Trần cổng sai bày rượu rồi vịnh thơ. Chợt ông thấy ở vách hoa đình có bài thơ của Hỷ Đồng. Hỏi ra mới biết Hỷ Đồng chính là Mai Lương Ngọc, con trai Bá Cao, ông Trần vui mừng khôn xiết.
III. Họ Trần bị hại: Mai Lương Ngọc và Trần Xuân Sinh gặp cảnh lưu ly (từ câu 897 đến câu 1.974):
Giữa lúc ấy, giặc Sa Đà lại ngấp nghé ngoài biên cương. Vốn ghét Trần Đông Sơ, Lư Kỷ tâu vua bắt Hạnh Nguyện đem cống để giặc lui. Trên đường đi cống, Hạnh Nguyên theo gương Chiêu Quân, nhảy xuống sông tự vẫn. May mà trôi giạt vào vườn nhà bà Châu Bá Phù, được nhận làm con nuôi, cùng ở với con gái bà là Vân Anh. Nhân việc ấy, Trần công bị bắt giam, cả nhà bị truy nã. Lương Ngọc cùng với Xuân Sinh (con trai Trần Đông Sơ) chạy trốn. Giữa đường gặp cướp, hai người lạc nhau. Lương Ngọc đổi tên là Mục Vinh, may gặp ông Phùng Lạc Thiên đang trên đường lai kinh phục chức. Được ông Phùng giới thiệu, chàng vào giúp việc cho quan Tuẩn án ở Hồ Nam là Châu Bá Phù. Thấy Lương Ngọc có tài văn chương, mới cho chàng về quê ông để học tập, và định gả con gái ông là Vần Anh cho chàng. Nhân đó, Lương Ngọc gặp được Hạnh Nguyên lúc bấy giờ đang ở nhà bà Châu Bá Phù.
Còn Trần Xuân Sinh lưu lạc khổ sở, nhảy xuống sông tự tử nhưng được nhà thuyền chài cứu thoát, nuôi dưỡng, và hứa sẽ gả con gái là Ngọc Thư cho chàng. Ỷ thế con quan, Giang Khôi bắt Ngọc Thư về làm tì thiếp. Xuân Sinh đi kiện, gặp Khâu Để đốc (em ruột Mai phu nhân, tức cậu Lương Ngọc), được hô Khẩu nhận làm con nuôi (đổi tên là Khâu Khôi), và định gả con gái là Vân Tiên cho Xuân Sinh.
IV. Phe gian thần bị tội: họ Mai và họ Trần được hiển vinh (từ câu 1.975 đến câu 2.780):
Mục Vinh (ương Ngọc) và Khâu Khôi (uân Sinh) đi thi. Một người đỗ Trạng nguyên, một người đỗ Bảng nhãn. Lư Kỷ muốn ~p Khâu Khôi cưới con gái mình, nhưng chàng không chịu. Lư Kỷ bắt Khâu Khôi bỏ ngục. Học trò nổi giận, đón đánh Lư Kỷ và Hoàng Tung, rồi vào chầu vua kể hết tội lộng quyền của hai viên quan này. Vua xét rõ, bèn sai chém cả hai. Cuối cùng, cả hai họ Mai-Trần đều được nhà vua ban thưởng: Mai Bá Cao được truy phong, Trần công được khỏi tù và thăng chức, Lương Ngọc và Xuân Sinh đều được ban chức. Lương Ngọc về đón mẹ, viếng mộ Hỷ Đồng, rôi về kinh làm lễ thành hôn cùng Hạnh Nguyên (vợ chánh) và Vân Anh (vợ thứ). Còn Xuân Sinh thì làm lễ thành hôn với Vân Tiên và Ngọc Thư.
Đoạn trích sau đây nằm ở phần III của tác phẩm
880. Đã xe vào, lại thử rời bắc, nam.
Làm cho chí tái chí tam,
Rồi ra đố lại vào ngàm mới thôi.
Phủ Trần chưa hết chuyện vui,
Bỗng đâu có chỉ đến nơi quan hoài.
Đảng công, Lư Kỷ ngồi ngoài,
Truyền rằng có chỉ dạy đòi Trần gia.
Đọc rồi mới biết rằng là:
Biên quan có nước Sa đà động binh.
Khói lang, bụi ngựa tung hoành.
890. Khuấy hôi cõi Hán, chọc tanh ải Tẩn
Lư công dâng chước hòa thân,
Truyền đòi con gái họ Trần kết thân,
Ban cho áo mũ Chiêu Quân,
Đảng công vâng mệnh đưa chân cõi ngoài.
Nghe ra xiết nỗi bồi hồi,
Ấy ai mưu hiểm, giục người sinh ly
Khởi hành đã định nhật ký,
Lư công giục giã ngận tùy quân sai.
Hạnh Nguyên ra yết nhà ngoài,
900. Ngứa gan tấm tức mấy lời vân vân:
"Vẻ chi một chút Hồ trân,
Những tài thao lược, kinh luân đầu nào?
Dẹp yên mượn sức má đào,
Khen ai đặt để cái mưu cũng già
Kiếp này không xé được da.
Kiếp sau quả báo, oan gia kẻo gì.
Gớm tuồng mộc vị, thần vì,
Mãng thêu hoài chi, đai suy uổng vàng
" Lư công nghe nói ngang tang',
910. Mắt song sọc khóe, mặt sường sượng gân.
Tiên đường dọn tiệc chủ, tân
Cho cùng Trần điệt lên đường xuất quan
Thoắt thôi nghe có lệnh toàn:
Bốn mươi thị nữ dân gian kén rồi.
Trong danh sách bấy nhiêu người,
Cùng ra Phiên quốc theo đòi Hạnh Nguyên.
Lại truyền không được trì diên,
Trong hai ngày hạn xe tiên lên đường,
Áo Hổ đưa lại một rương,
930. Dạy cho nương tử cải trang xuất hành.
Nàng rằng: "Quân minh đã đành,
Tủi mình khuê khôn, liều mình tinh chiên.
Bao giờ khỏi đất Trung nguyên,
Bấy giờ thay áo Hổ phiên vội gì.
Chịu trời chăng! Một chữ thì,
Áo này dù đổi, lòng kia khôn dời!"
Đảng cộng khen đã nên lời,
Cứng lòng, thiết thạch hổ người tu mi.
Thẹn thay cho kẻ vô nghì.
940. Khi này dạ Sở, lúc kia bụng Tần.
Lời trung khêu ruột gian thần,
Bưng tai giả điếc, nổi gân bất bình.
Ngoài thì quan khách linh-đình,
Trong thì nàng cũng đau tình biệt ly.
Lạy hai thân, kể mọi bể,
Châu chan nét liễu, dầm dề giọt mai.
Rằng: "Con chút phận nữ hài,
Công cha nghĩa mẹ chốc mười mấy niên.
Môn mi mong những nhờ duyên,
950. Ngỡ đem tấc cỏ báo đền ba xuân,
Hiểm thay chước kẻ gian-thần,
Xui nên kẻ Tấn, người Tấn như không.
Có ra chi, phận má hồng,
Khôn đem chữ hiếu, đền công chữ cù.
Rồi đây muôn dặm đất Hô,
Biết câu thập nữ viết vô từ rày
Xin đừng nhớ đổi, sầu thay,
Liều bằng muôn một những ngày một hai"
Thoắt thôi sùi sụt ngắn dài,
960. Gập-ghềnh mới ngụ một bài biệt thi.
(Bùi Thức Phước biên soạn, Truyện Nhị độ mai. NXB Hội Nhà văn, 2012)
Dòng nào nói lên nội dung của văn bản truyện thơ Giã từ gia quyến?
Lời giải chi tiết
Để tìm dòng nói lên nội dung của văn bản đạo thơ "Giã từ gia quyến", ta cần phân tích từng phương án:
Vậy, chọn phương án B.
Chú ý khi giải
Dòng nào nói lên các nhân vật trong văn bản truyện thơ Giã từ gia quyến?
Lời giải chi tiết
Để tìm ra được nhân vật trong văn bản truyện thơ "Giã từ gia quyến", chúng ta cần dựa vào tóm tắt và đoạn trích để xác định. Trong đoạn trích và tóm tắt phần III của "Nhị độ mai" đã nêu rõ về các nhân vật như sau:
Từ đó có thể thấy, trong các lựa chọn của câu hỏi, lựa chọn B: "Trần Đông Sơ, Lư Kỷ, Hạnh Nguyên" là lựa chọn chính xác khi nói về các nhân vật chủ yếu trong đoạn trích "Giã từ gia quyến".
Đáp án đúng là: B. Trần Đông Sơ, Lư Kỷ, Hạnh Nguyên.
Chú ý khi giải
Văn bản trên được thuật kể bằng lời của:
Lời giải chi tiết
Để trả lời câu hỏi về ngôi kể trong đoạn trích từ tác phẩm Nhị độ mai, chúng ta cần phân tích ngữ liệu để xác định người phát ngôn. Đoạn trích từ câu 880 đến câu 960 là một phần của truyện thơ nôm, và văn bản tuân thủ các đặc điểm của ngôi thứ ba, người kể chuyện giấu mặt không xuất hiện trực tiếp trong câu chuyện.
Phân tích các lựa chọn:
Đáp án đúng là D: Người kể chuyện (ngôi thứ 3)
Chú ý khi giải
Khi giải các bài tập liên quan đến ngôi kể chuyện, các em cần chú ý:
Dòng thơ Bỗng đâu có chỉ đến nơi quan hoài nói lên điều gì?
Lời giải chi tiết
Để giải quyết câu hỏi "Dòng thơ Bỗng đâu có chỉ đến nơi quan hoài nói lên điều gì?", chúng ta cần phân tích nội dung đoạn trích và ngữ cảnh của dòng thơ.
Phân tích:
- Dòng thơ này nằm trong phần III của tác phẩm "Nhị độ mai", tường thuật về giai đoạn họ Trần bị hại và Mai Lương Ngọc cùng Trần Xuân Sinh gặp cảnh lưu ly.
- Nội dung đoạn trích cho thấy Lư Kỷ, một trong các gian thần, đã lập mưu để nhà vua ra chỉ đưa con gái họ Trần, tức Hạnh Nguyên, đi cống giặc Sa Đà. Vì vậy, chỉ "đến nơi quan hoài" chính là mệnh lệnh của vua được truyền đến gia đình họ Trần.
- "Quan hoài" ở đây chỉ các mệnh lệnh quan trọng từ triều đình, mà trong trường hợp này là yêu cầu đưa Hạnh Nguyên đi để hòa thân với giặc.
Lập luận:
Vì vậy, phương án chính xác là:
C. Tình huống đến với gia đình Trần Đông Sơ.
Chú ý khi giải
Khi giải quyết các câu hỏi về văn học, hãy chú ý đến ngữ cảnh của đoạn trích và mối liên hệ giữa các nhân vật, sự kiện trong tác phẩm.
Cần cẩn thận với những lỗi chính tả hoặc lỗi đánh máy trong ngữ liệu, điều này có thể dẫn đến sự hiểu lầm.
Nắm rõ phần tóm tắt nội dung toàn bộ tác phẩm có thể giúp bạn hiểu sâu hơn tình tiết của từng đoạn trong tác phẩm.
Hai dòng thơ: Đã xe vào, lại thử rời bắc, nam/Làm cho chí tái chí tam là lời của ai, nói về điều gì?
Lời giải chi tiết
Khi đọc ngữ liệu từ "Truyện Nhị độ mai" được nêu trong bài, chúng ta thấy bối cảnh câu chuyện xoay quanh các nhân vật chính trị của nhà Mai và nhà Trần. Đoạn trích phần III tập trung vào việc họ Trần và sự kiện khó khăn mà họ phải chịu đựng do âm mưu của gian thần Lư Kỷ.
Với hai dòng thơ đầu tiên trong đoạn trích: "Đã xe vào, lại thử rời bắc, nam/Làm cho chí tái chí tam", chúng ta cần hiểu ngữ cảnh và ai là người đang nói. Đoạn trích này nằm trong bối cảnh khi Lư Kỷ cố tình dùng âm mưu để gây bất lợi cho nhà Trần nhằm phục vụ lợi ích cá nhân.
Phân tích từng phương án:
Vì vậy, lựa chọn hợp lý nhất là:
Đáp án: A. Lời người kể chuyện, nói hoạn nạn của nhà Đông Sơ.
Chú ý khi giải
- Đọc kỹ đoạn trích để hiểu ngữ cảnh và các nhân vật liên quan, tránh nhầm lẫn về người nói hoặc hoàn cảnh đang diễn ra trong tác phẩm.
- Chú ý đến giọng điệu và cách xưng hô để phân biệt lời nhân vật và lời của người kể chuyện.
- Khi chọn phương án đúng, cần phân tích kỹ lưỡng từng đáp án và loại trừ các phương án không hợp lý dựa trên phân tích ngữ liệu.
Những câu thơ sau là lời của ai, thể hiện điều gì?
Vẻ chi một chút Hồ trần,
Những tài thao lược, kinh luân đâu nào?
Dẹp yên mượn sức má đào,
Lời giải chi tiết
Để giải quyết câu hỏi này, chúng ta cần xác định ngữ cảnh của đoạn trích và phân tích từng phương án để tìm ra đáp án đúng nhất.
Trong đoạn trích từ câu 900: "Vẻ chi một chút Hồ trần..." là lời nói của một nhân vật, và chúng ta phải xác định đó là của ai và thái độ, ý nghĩa mà nó thể hiện.
Phân tích từng phương án:
Vậy, đáp án chính xác là D. Lời của Hạnh Nguyên khinh bỉ bọn quan lại.
Chú ý khi giải
Khi giải dạng bài này, học sinh cần chú ý:
Hai dòng thơ: Ngoài thì quan khách linh đình/Trong thì nàng cũng đau tình biệt ly, diễn tả điều gì, bằng thủ pháp nghệ thuật nào?
Lời giải chi tiết
Để xác định đáp án đúng, chúng ta phân tích từng phương án một:
Phương án A: Cảnh chia tay buồn bã ở gia đình Hạnh Nguyên bằng từ láy.
Cần lưu ý rằng từ "ngoài" và "trong" không phải là từ láy và hai câu này mô tả tình cảnh trái ngược, không phải chỉ có cảnh buồn bã.
Phương án B: Cảnh buồn đau của gia đình Hạnh Nguyên bằng thủ pháp đối lập.
Câu thơ mô tả sự đối lập giữa không khí bên ngoài náo nhiệt và tâm trạng bên trong buồn bã của Hạnh Nguyên, tuy nhiên câu này không chỉ nhấn mạnh cảnh buồn của cả gia đình.
Phương án C: Tâm trạng đau đớn phút ly biệt của Hạnh Nguyên bằng thủ pháp đối lập.
Câu thơ thể hiện sự đối lập giữa "ngoài quan khách linh đình" - tức là không khí ngoài vui vẻ, và "trong cũng đau tình biệt ly" - tức là tâm trạng đau khổ của Hạnh Nguyên.
Phương án D: Tâm trạng đau đớn phút ly biệt của Hạnh Nguyên bằng nghệ thuật tiểu đối.
Nghệ thuật tiểu đối chỉ là một phần của cách đối lập, tuy nhiên tiểu đối không phải là từ chuẩn để diễn tả đầy đủ.
=> Đáp án đúng là C: Tâm trạng đau đớn phút ly biệt của Hạnh Nguyên bằng thủ pháp đối lập.
Chú ý khi giải
Hạnh Nguyên nói với ai về điều gì trong câu thơ: Có ra chi, phận má hồng/ Khôn đem chữ hiếu, đền công chữ cù?
Lời giải chi tiết
Đề bài yêu cầu tìm hiểu ý nghĩa của câu thơ "Có ra chi, phận má hồng/ Khôn đem chữ hiếu, đền công chữ cù" trong đoạn trích từ "Truyện Nhị độ mai". Câu hỏi này liên quan đến việc xác định đối tượng mà nhân vật Hạnh Nguyên đang nói trong câu thơ đó và thông điệp mà cô ấy muốn truyền tải. Đề bài cho bốn lựa chọn và yêu cầu chọn đáp án đúng nhất.
Phương án A: Tự nói với lòng mình về chữ hiếu.
Thông qua tâm tình của Hạnh Nguyên, có thể thấy cô nói về sự bất lực của mình trong việc báo hiếu cha mẹ. Tuy nhiên, câu thơ này có vẻ như không hoàn toàn chỉ là sự tự nhủ mà còn có ý tứ trực tiếp đối với một ai đó.
Phương án B: Nói với cha mẹ: thương cha mẹ, sinh ra con khó nhọc mà con chưa đền ơn.
Hạnh Nguyên đang cảm thấy hụt hẫng vì không thể trả được công ơn cha mẹ do mình phải đền tội cho người khác. Câu nói chứa đựng cảm xúc dành cho cha mẹ hơn là chỉ tự nói với mình.
Phương án C: Nói với Lư Kỷ: nhà ngươi khiến ta thành con bất hiếu.
Câu thơ này thể hiện sự đau khổ của Hạnh Nguyên với tình cảnh hiện tại và điều này không có dấu hiệu cho thấy sự trách móc trực tiếp Lư Kỷ.
Phương án D: Nói với bạn trong phút biệt ly: giúp mình báo hiếu cha mẹ.
Câu thơ thể hiện bản thân Hạnh Nguyên về việc báo hiếu, chứ không phải nhờ bạn giúp đỡ.
Đáp án đúng là phương án B.
Chú ý khi giải
Khi giải các dạng bài tương tự, cần lưu ý:
Chủ đề của văn bản đọc Giã từ gia quyến là:
Lời giải chi tiết
Để tìm ra chủ đề chính xác của đoạn trích "Giã từ gia quyến" trong tác phẩm "Truyện Nhị độ mai", chúng ta cần phân tích nội dung và tình huống trong đoạn trích:
Dựa trên nội dung và ngữ cảnh, phương án A - Xót thương cho phận gái trong cảnh loạn lạc chính là chủ đề của văn bản.
Chú ý khi giải
Văn bản Giã từ gia quyến đề cao những phẩm chất nào của con người?
Lời giải chi tiết
Khi đọc đoạn trích "Giã từ gia quyến" trong tác phẩm "Nhị độ mai", ta thấy nhân vật Hạnh Nguyên đang phải đối mặt với một tình huống khó khăn khi phải rời xa gia đình để thực hiện cuộc "hòa thân". Trong những lời giã từ gia quyến, cô dâu trẻ thể hiện sự hiếu thảo với cha mẹ, oán trách số phận và buộc phải chấp nhận một cuộc chia ly không mong muốn.
Từ nội dung này, chúng ta có thể phân tích các phương án và đánh giá phù hợp như sau:
Do đó, đáp án đúng là C. Người con hiếu thảo.
Chú ý khi giải
Dòng nào nói lên nghệ thuật khắc họa nhân vật trong văn bản đọc trên?
Lời giải chi tiết
Để trả lời câu hỏi: "Dòng nào nói lên nghệ thuật khắc họa nhân vật trong văn bản đọc trên?" ta cần phân tích các phương án:
Trong đoạn trích trên, sự khắc họa nhân vật được thể hiện chủ yếu qua tâm trạng của Hạnh Nguyên, sự phẫn nộ và dũng cảm đối diện với những âm mưu của Lư Kỷ. Những lời nói, cử chỉ đầy tự tin thể hiện rõ ràng bản lĩnh và tâm trạng nhân vật.
Vì vậy, phương án đúng là Phương án C: Diễn tả tâm trạng nhân vật (Lời người kể chuyện, lời nhân vật) vì có sự miêu tả cả tâm trạng và cảm xúc của Hạnh Nguyên qua lời nói của chính nhân vật và qua sự diễn tả tâm trạng tiêu biểu trong đoạn hội thoại.
Chú ý khi giải
Dòng nào nói lên cảm xúc chủ đạo của văn bản đọc?
Lời giải chi tiết
Để tìm dòng nói lên cảm xúc chủ đạo của văn bản, chúng ta cần phân tích nội dung đoạn trích. Đoạn trích chủ yếu xoay quanh việc Hạnh Nguyên buộc phải lên đường đi cống để cầu hòa. Cảm xúc của Hạnh Nguyên thể hiện rõ sự căm giận đối với việc phải hi sinh bản thân cho âm mưu của gian thần và đau đớn vì cảnh chia ly.
Cảm xúc ở đoạn trích này nổi bật là sự căm giận đối với sự bất công, gian trá của Lư Kỷ và những kẻ đồng mưu. Điều này thể hiện qua các câu như "Kiếp này không xé được da, kiếp sau quả báo, oan gia kẻo gì", "Khôn đem chữ hiếu, đền công chữ cù". Sự căm giận còn thể hiện qua sự tự trào "Khen ai đặt để cái mưu cũng già".
⇒ Cảm xúc chủ đạo của văn bản đọc là căm giận.
Chọn đáp án: A. Căm giận.
Chú ý khi giải
Văn bản Giã từ gia quyến kể về việc gì? Văn bản có những nhân vật nào, ai là nhân vật chính (0.5đ)
Lời giải chi tiết
- Kể về việc gia đình Trấn Đông Sơ vốn bị Lư Kỷ tâu ghét nên hắn đã nhân cơ hội giặc Sa Đà lại ngấp nghé ngoài biên cương để tâu vua bắt Hạnh Nguyên đem cống để giặc lui. Hạnh nguyên đau đớn từ biệt gia đình để lên đường.
- Gồm các nhân vật: Lư Kỷ, Hạnh Nguyên và sóng thân Hạnh Nguyên và Hạnh Nguyên là nhân vật chính.
Mười câu thơ đầu kể về sự việc gì, bằng lời của ai? Những từ ngữ bỗng đâu, làm cho chí tái chí tam diễn tả điều gì? (1.0đ)
Lời giải chi tiết
- Kể việc gia đình Trần Đông Sơ (cha của Hạnh Nguyên ) nhận chỉ của vua về việc có liên quan đến biên ải bằng lời của người kể chuyện (ngôi thứ 3)
Những từ ngữ bỗng đâu, làm cho chí tái chí tam diễn tả:
+ Sự việc xảy ra với gia đình Trần Đông Sơ rất bất ngờ
+ Đời trớ trêu đã đầy ải, làm khổ con người phải đến 2, 3 lần mới thôi.
+ Thể hiện cả nỗi ai oán, xót thương cho tình cảnh nhà Trần Đông Sơ
Phân tích nét đặc sắc về nội dung, cảm xúc và thủ pháp nghệ thuật trong những câu thơ sau: (1.5đ)
Ngoài thì quan khách linh đình,
Trong thì nàng cũng đau tình biệt ly.
Lạy hai thân, kể mọi bề,
Châu chan nét liễu, dầm dề giọt mai.
Rằng: "Con chút phận nữ hài,
Công cha nghĩa mẹ chốc mười mấy niên.
Lời giải chi tiết
- Nội dung: Cảnh đau buồn ly biệt của Hạnh Nguyên. Nàng lạy song thân và nói trong nước mắt rằng con trẻ đã phụ công cha mẹ sinh dưỡng
- Cảm xúc: buồn đau, nỗi buồn ly biệt bao trùm không gian, chỉ có nước mắt và những lời biệt ly đau đớn tột cùng
- Nghệ thuật:
+ Đối lập tương phản: ngoài tiệc linh đình >< trong đau tình biệt li -> nỗi đau phải giấu, gói vào tâm can
+ Gieo vần của thơ lục bát: đình -tình; bể- để khiến cho nỗi buồn biệt ly kéo dài miên man không dứt
+ Nghệ thuật tiểu đối, từ gần nghĩa, nghệ thuật ẩn dụ (châu chấu - giọt mai):
Châu chan nét liễu, dầm dề giọt mai gợi tả cảnh đau buồn, nước mắt tuôn rơi, lệ thấm vào lòng người vào không gian... đâu đâu cũng là nỗi buồn ly biệt của cô gái - người con yêu cha mẹ bị đày ải nơi xa... tình cảm xiết bao đau đớn, xót xa...
Hạnh Nguyên là con người như thế nào? Hãy phân tích một số câu thơ tiêu biểu làm rõ điều đó. Từ đó, nhận xét tình cảm, thái độ của tác giả dành cho nhân vật này? (1,5đ)
Lời giải chi tiết
- Là người khẳng khái, dám thể hiện thái độ của mình đối với qian võ, đối với
Lư Kỷ:
+ Vẻ chi một chút Hồ trần/Những tài thao lược, kinh luân đâu nào Dẹp yên mượn sức má đào/Khen ai đặt để cái mưu cũng già
-> Các từ ngữ má đào, vẻ chi, thao lược, kinh luân, khen cho thể hiện rõ thái độ của Hạnh Nguyên: có bọn giặc nhỏ mà phải mượn phận gái để chống đỡ, khen cho mưu già, mưu cao. Và mỉa mai Những tài thao lược, kinh luân đâu hết rồi ??? Quan tướng hèn nhát phải trốn để đấy thẩn gái ra "đỡ đạn"
- Là người con gái hiếu thảo: thân mình phải đi cống giặc nhưng nàng chỉ lo thương bố mẹ đã già bao công nuôi dưỡng con mà nay không được nhờ vả chút gì... (Có ra chi, phận má hồng Khôn đem chữ hiếu, đền công chữ cù)
- Nàng đau khổ khi phải nghĩ cha mẹ sinh ra mình, có cũng như không: Rồi đây muôn dặm đất Hồ/ Biết câu thập nữ viết vô từ rày
- Không báo hiếu được cha mẹ, phải sống xa cha mẹ, Hạnh Nguyên vô cùng đau buồn
(Châu chan nét liễu, dầm dề giọt mai; Ngỡ đem tấc cỏ báo đền ba xuân; Châu chan nét liễu, dầm dề giọt mai.)
- Nàng giàu tình cảm nhưng cũng là người mạnh mẽ: khóc than, buồn tủi, nhưng gạt nước mắt đọc thơ từ biệt song thân (Thoắt thôi sùi sụt ngắn dài/Gập ghềnh mới ngụ một bài biệt thi)
-> Tác giả đông cảm, xót thương cho cảnh ngộ của Hạnh Nguyên, cho thân gái mỏng manh mà phải mang đi cầu hòa trong buổi tao loạn; ngợi ca, trân trọng những phẩm chất đáng quý của cô gái, quên thân mình chỉ hướng về song thân.
Tác giả diễn tả tình cảnh gia đình, tâm trạng đau đớn của Hạnh Nguyên khi lên đường cống giặc nhằm mục đích gì? Từ đó, hãy nhận xét thái độ của tác giả đối với chiến tranh. (2.0đ)
Lời giải chi tiết
- Nhằm mục đích tố cáo chiến tranh, tố cáo bọn quan lại đớn hèn, bày tỏ nỗi xót thương vô cùng cho thân phận những cô gái như Hạnh Nguyên: nhân gái liễu yếu lại phải gánh vác việc giang sơn.
- Thái độ của tác giả đối với chiến tranh: căm ghét chiến tranh, phản đối chiến tranh đã gây ra cuộc tao loạn, đẩy bao người vào cảnh sầu thảm, sống trong li biệt, tha hương.
+ Biên quan có nước Sa đà động binh. Khoai lang, bụi ngựa tung hoành. Khuấy hôi cõi Hán, chọc tanh ải Tần.
+ Khi này dạ Sở, lúc kia bụng Tần. Lời trung khêu ruột gian thần, Bưng tai giả điếc, nổi gân bất bình.