“Dưới thời Minh Mạng, phép Hồi tỵ (nghĩa gốc là tránh đi hoặc né tránh) được thực hiện chặt chẽ. Trong đó có quy định người làm quan không được nhậm chức ở quê quán, trú quán, quê mẹ, quê vợ; đối với nhân viên hành chính (lại mục, thông lại), ai quê ở phủ, huyện nào cũng không được làm việc tại cơ quan công quyền của phủ, huyện đó.”
(SGK Lịch sử 11, Bộ Cánh Diều, trang 74)
Lời giải chi tiết
Đề bài đưa ra 4 mệnh đề liên quan đến phép Hồi tỵ dưới thời vua Minh Mạng. Nhiệm vụ của chúng ta là phân tích và xác định mệnh đề nào đúng, mệnh đề nào sai và lý do tại sao.
Mệnh đề 1: Minh Mạng là vị vua đầu tiên trong lịch sử Việt Nam đề ra phép Hồi tỵ cho quan lại.
- Phép Hồi tỵ thực chất đã xuất hiện từ thời kỳ phong kiến trước đó, ví dụ như Trung Quốc, nhưng dưới thời Minh Mạng, việc thực hiện phép này được hệ thống hoá và thực thi một cách chặt chẽ hơn.
- Vì vậy, mệnh đề 1 không hoàn toàn chính xác. Minh Mạng không phải là người đầu tiên đề ra phép Hồi tỵ mà ông là người đầu tiên áp dụng nó một cách hệ thống và triệt để.
Mệnh đề 2: Phép Hồi tỵ ngăn chặn quan lại cấu kết với nhau nhằm thao túng chi phối địa phương.
- Mệnh đề này đúng, vì mục đích chính của phép Hồi tỵ là hạn chế việc quan lại sử dụng ảnh hưởng cá nhân ở địa phương để chi phối hoặc thao túng công quyền nhằm bảo đảm sự công bằng và khách quan.
Mệnh đề 3: Một số nội dung của phép Hồi tỵ đã và đang được nhà nước Việt Nam thực hiện.
- Đúng, các quy định về việc tránh "ông chủ bà chủ" hoặc "lãnh đạo gia đình" trong cơ quan công quyền hiện nay là sự tiếp nối của ý tưởng phép Hồi tỵ.
Mệnh đề 4: Nội dung cải cách này góp phần hoàn chỉnh bộ máy chuyên chế trung ương tập quyền.
- Mệnh đề này đúng. Phép Hồi tỵ giúp Minh Mạng củng cố quyền lực trung ương, hạn chế tình trạng cát cứ hoặc tự trị địa phương, từ đó hoàn thiện bộ máy nhà nước tập quyền.
Mệnh đề 1 sai, có thể gây hiểu nhầm về việc đề ra phép Hồi tỵ. Các mệnh đề 2, 3, 4 đúng và thể hiện rõ mục đích, ảnh hưởng và tính lịch sử của phép Hồi tỵ.
Chú ý khi giải