DẤU CHÂN (Nguyễn Quang Sáng1)
(Tóm lược phần đầu: Người mẹ là một cô giáo trẻ làm hiệu trưởng của một ngôi trường ở quê nội của con. Cô có thói quen viết nhật ký cho con, một cậu bé 4 tuổi rất dễ thương. Trong những trang nhật kí ấy là những câu chuyện cuộc sống quanh mình lúc bấy giờ. Câu chuyện được kể dưới đây là vào ngày hôm khi đi làm về, có thấy nhiều người đào bới trong vườn nhà mình).
Cô gái và người đàn ông đào được, hai người lột lấy cái khăn buộc qua đầu, lau đi lau lại cái vật quý. Nhìn rõ, mẹ thấy đó là hai viên gạch. Đúng là hai viên gạch, gạch dùng để lót sân, hình chữ nhật, làm bằng đất sét, đem nung. Có gì mà họ phải tốn công sức và vui mừng đến vậy! Mẹ bước lại gần hơn. Một người bảo:
- Đem xuống nước rửa cho sạch đất đi!
Một người đứng bên khoát tay:
- Không được! Lấy khăn ướt mà lau!
Rồi hai người lột khăn mình, đến mé hố bom, nhúng khăn, hai người lau đi lau lại thật cẩn thận.
Người đàn ông và cô gái, sau khi lau hai viên gạch hết đất trao cho người già nhất:
- Đây nè, bác Bảy, đúng rồi!
Bác Bảy, một ông lão độ hơn bảy mươi, nhưng hãy còn rắn rỏi, lão mặc quần đùi theo kiểu xưa dài đến tận gối, mình trần nhễ nhại mồ hôi, chòm râu bạc, đầu bịt khăn khấc2, nhìn hai viên gạch hồi lâu, lão bỗng đưa bàn tay gầy guộc lên bụm mắt, khóc rưng rức. Thấy lạ, con hỏi mẹ nhưng mẹ không để ý đến câu hỏi của con. Mẹ bồng con bước gần lại, đứng bên cạnh cô gái.
Ông lão khóc không lâu, ông lau nước mắt bằng hai ngón tay, ông cầm hai viên gạch, lật ngửa, hai viên gạch trước mặt mọi người:
- Các cháu xem, - Giọng ông không nghẹn nhưng xúc động - đúng là dấu chân của chú Ba quận ủy.
Đến lúc ấy, mẹ mới nhìn thấy rõ, trên mặt của hai viên gạch còn hằn lại đường nét của hai bàn chân, dấu chân hằn xuống không sâu lắm - mẹ không thể nói chính xác là bao nhiêu ly - nhưng dấu chân hẳn xuống hai viên gạch trông thật rõ. Cả hình dáng của bàn chân: cái gót sau, các mép chân, mặt trước của bàn chân, và cả năm ngón. Không thật sâu, thật rõ nhưng mẹ hãy còn nhìn thấy những đường chỉ của bàn chân.
- Các cháu! - Ông Bảy nhìn người đứng chung quanh như nhìn một đàn con trước khi nói:
- Từ năm 1954 đến 1968, mười bốn năm. Ở đây, bao nhiêu người bị bắt, bị tù đày, bị bắn, bị đưa lên máy chém, bao nhiêu cơ sở bị đánh bật ra ngoài. Chủ Ba, mười bốn năm vẫn đứng, vẫn trụ lại ở đất này để nắm quân chủng, dựng phong trào. Suốt bao nhiêu năm, từ 1954 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, chỗ này, chợ quận này, mới thoát ra khỏi vòng kềm kẹp3 và rào kẽm gai của bọn chúng. Ban đêm, chú Ba đi hoạt động, chú tìm đến từng nhà, từng cơ sở. Ban ngày thì chú trở về hầm bí mật. Nhờ đó mà dù cho Mỹ có đổ quân, có xây căn cứ ở đất này, dân ở đây vẫn tin, ở đây, còn có chú Ba, còn có Cách mạng. Hôm chú đào hầm bí mật, chú đến hỏi bác xin hai viên gạch. Bác lựa hai viên gạch nguyên, chắc trước thềm nhà bác, bác cạy lên, trao cho chú. Xuống hầm bí mật, chú ngồi, chỉ ngồi thôi. Chú ngồi trên cái ghế còn hai viên gạch này chú dùng để đặt hai bàn chân. Đất ở xứ này cận sông đào xuống, đất ẩm ướt lắm, chân mà để dưới đất lâu ngày sẽ bị bịnh4 thấp.
Mười bốn năm, bác già, còn nhớ gì đến hai viên gạch? Mà có gì đáng để cho bác nhớ. Đến năm Mậu Thân 68 chú Ba thoát lên mặt hầm, làm chính ủy mặt trận cánh Nam đánh vào Sài Gòn. Chú đến nói với bác:
- Bác Bảy à! Lần này thì cháu thoát hầm bí mật. Nếu cháu không trở về, sau này bác nhớ moi hẩm của cháu, giữ hai viên gạch lại.
Nghe lời từ giã của chú, bác xót xa, bác cắt ngang rồi nạt chủ:
- Miệng ăn mắm, ăn muối, nói tầm phào!
Chú không giận mà cười:
- Hai viên gạch đó...
Bác không để chú nói hết lời, bác lại cắt:
- Mày tưởng tao tiếc hai viên gạch đó lắm sau Ba?
- Dạ, cháu không phải nói vậy, mà hồi nãy, trước khi lên hầm, cháu bấm đèn pin, cháu thấy mười bốn năm, mà ngày nào cũng như ngày nào, cháu cũng đặt hai bàn chân lên hai viên gạch, nên hai viên gạch còn lại dấu vết của cháu....
Con yêu! Lúc mẹ nghe kể, mẹ nghĩ: Mười bốn năm, sức mạnh của thời gian trong đôi chân đã để lại hai viên gạch này: dấu chân, dấu chân người chiến sĩ cách mạng.
Ông lão thận trọng trao hai viên gạch lại cô gái. Mẹ biết, cô gái ấy là cán bộ tuyên huấn của quận, cô đang lãnh trách nhiệm xây nhà truyền thông.
Cô kéo chiếc khăn rằn5 đang đội gói lấy hai viên gạch.
[...]
(Nguyễn Quang Sáng, Tuyển tập truyện ngắn đặc sắc,
NXB Văn hóa - Văn nghệ TP Hồ Chí Minh)
Chú thích:
(1). Nguyễn Quang Sáng quê ở An Giang, tham gia kháng chiến ở chiến trường Nam Bộ. Là Tổng thư kí Hội nhà văn Việt Nam khóa IV.
(2). Khăn khấc: Khăn đầu rìu dùng để đội đầu hoặc quân một vòng ở trán, đầu môi vểnh lên như đầu rìu.
(3). Kềm kẹp: Còn gọi là kìm kẹp chỉ sự đè nén, chèn ép một cách khắt khe, không cho tiến triển.
(4). Bịnh: bệnh
(5). Khăn rằn: Khăn trăng có vạch màu đen mà phụ nữ Nam Bộ thường dùng.
Câu 1.Viết đoạn văn nghị luận khoảng 150 chữ phân tích hình ảnh dấu chân trong văn bản được dẫn ở phần Đọc hiểu.
Lời giải chi tiết
Để phân tích hình ảnh dấu chân trong văn bản "Dấu Chân" của Nguyễn Quang Sáng, chúng ta có thể bắt đầu với một vài dưới đây và dàn ý để giúp các em sắp xếp ý tưởng của mình. Sau đó, các em có thể tham khảo đoạn văn mẫu.
Trong văn bản "Dấu Chân" của Nguyễn Quang Sáng, hình ảnh dấu chân trên hai viên gạch không chỉ đơn thuần là một dấu vết vật lý, mà còn là biểu tượng sâu sắc cho lòng kiên trung và sự bền bỉ của người chiến sĩ cách mạng, chú Ba. Qua những năm dài hoạt động cách mạng, dấu chân của chú Ba hằn sâu trong lòng người dân như một bằng chứng sống động về sự kiên cường và lòng yêu nước mãnh liệt. Đó là dấu son ca ngợi sự hi sinh và dũng cảm, tinh thần không khuất phục của những người đấu tranh vì lý tưởng cao cả. Đồng thời, dấu chân cũng thể hiện mối quan hệ khăng khít giữa người cách mạng và nhân dân địa phương, khi họ cùng nhau chia sẻ gian khổ và hi vọng về tương lai tươi sáng. Đây còn là minh chứng cho sức mạnh của niềm tin và ý chí trong cuộc sống khắc nghiệt, làm lay động lòng người đọc khi nghĩ về những trang sử oanh liệt của dân tộc.
Chú ý khi giải
Khi viết đoạn văn về hình ảnh dấu chân trong văn bản "Dấu Chân", các em cần chú ý: