Đọc ngữ liệu sau và thực hiện yêu cầu
Kiều LIÊN TRONG LOẠN LI
(Truyện Phan Trần - Bùi Thức Phước biên soạn)
*Tóm tắt Truyện Phan Trần
Truyện kể về cuộc tình duyên trắc trở của hai người là Phan Sinh và Trần Kiều
Liên. Theo nhà nghiên cứu văn học Việt Dương Quảng Hàm thì truyện được chia
làm 4 hồi.
Họ Phan và họ Trần đính ước gả con cho nhau (từ câu 1 đến câu 150):
Vào đời Tống Tĩnh Khang ở Trung Quốc có Phan công và Trần công vốn là
bạn học và là bạn đồng liêu. Khi vợ hai người thụ thai thì họ hẹn ước rằng hễ một
bên sinh con trai, một bên sinh con gái, sẽ gả cưới cho nhau. Họ Trần trao trâm ngọc, họ Phan trao quạt ngà làm vật đính hôn. Sau đó, họ Phan sinh ra Phan Sinh (tên là Tất Chánh) và họ Trần sinh ra Kiều Liên. Vì tuổi cao, Phan công và Trần công đều xin về trí sĩ để dạy con. Từ đó hai người xa cách nhau. Lớn lên, Phan Sinh thi Hương đỗ thủ khoa, nhưng hỏng thi Hội.
Phan Sinh và Kiều Liên phải xa cách nhau (từ câu 15I đến câu 302):
Thi hỏng, Phan Sinh xấu hổ không về trở quê, tìm nhà trọ học để chờ khoa sau. Trong thời gian ấy, Trần công mất, lại gặp lúc giặc nổi lên, mẹ con Kiều Liên phải chạy loạn. Nửa đường họ lạc nhau, mẹ thì đến nương náu ở nhà Phan công, còn Kiều Liên thì gặp một người họ Trương (Trương thị) đưa vào tu trong một ngôi chùa ở Kim Lăng, và lấy pháp danh là Diệu Thường.
Phan Sinh và Diệu Thường gặp nhau (từ câu 303 đến câu 774):
Phan Sinh đang học ở Thành Đô, chợt nhớ có người cô tu ở Kim Lăng, bèn đến thăm. Người cô bảo ở lại chùa học tập. Phan Sinh trông thấy Diệu Thường thì phải lòng, bèn nhờ bà vãi Hương công làm mối, nhưng Diệu Thường cự tuyệt. Phan Sinh vì thế ốm tương tư. Nể lời sư cô (cô Phan Sinh), Diệu Thường đến thăm chàng. Khi khỏi bệnh, một đêm, chàng lại phòng Diệu Thường cảm ơn. Trước nàng không cho vào, sau vì sợ Phan Sinh tự tận, nên phải mở cửa. Trong câu chuyện, hai người dần nhận ra là họ đã được cha mẹ đính hôn từ trước. Từ đó, hai người thầm đi lại với nhau.
Phan Sinh và Kiều Liên kết thành vợ chồng (từ câu 775 đến câu 954):
Phan sinh đỗ Thám hoa. Về chàng nói rõ cho sư cô biết chuyện của mình với Kiều Liên (tức Diệu Thường). Sư cô khuyên Phan Sinh làm lễ cưới Kiều Liên ở nhà Trương thị, rồi hai vợ chồng cùng vinh quy. Thế là hai họ Phan-Trần sum họp. Sau vua triệu Phan Sinh về kinh nhậm chức và cử đi đánh giặc. Giặc tan, chàng chiến thắng trở về, hai vợ chồng hưởng vinh hoa phú quý.
Đoạn trích sau nằm ở phần 2 của tác phẩm.
-ời chân bước thấp bước cao gập ghềnh.
Thánh tha bốn giọt lệ tình,
Biết đâu quen thuộc với mình được an.
Trải qua một quãng hàn san,
Chênh chênh nguyệt đã gác ngàn non mai.
Bỗng nghe trống giục, chiêng hồi,
Đêm khuya rừng rậm, rụng rời biết đầu?
Pha phôi dặm cúc, chòm lau,
Kẻ chân bãi nước, người đầu đinh non.
Con tìm mẹ, mẹ tìm con,
Cỏ cây man mác, nước non lạ lùng!
Xót nàng thơ yếu trẻ trung,
Trời xanh nỡ phụ má hồng chẳng bênh.
Một mình trong quãng rừng xanh,
Châu chan má phấn, tằm oanh khúc vàng.
Tình cờ gặp ả họ Trương,
Ở Kim lăng đến, hỏi nường thấp cao:
"Con người yểu điệu thanh tao,
Dáng sùi sụt tủi, chìu ngao ngán sầu!
Tên gì, quê, họ nơi đâu"?
180. "Gặp nhau xin ngỏ cho nhau biết cùng"
Tưởng rằng cùng bạn má hồng,
Đoái thương nên mới gạn gùng phân minh.
Gạt châu mới kể sự tình,
Nỗi quê cách trở, nỗi mình truân chiên.
Chẳng cho biết họ tường tên,
Tưởng cơn cớ ấy, tủi nên nếp xưa.
Trương rằng: "Thân gái hạt mưa,
"Biết đem mình ấy bây giờ cậy đâu?
Gần đây có một cảnh mâu"
"Nữ trinh, chùa ấy ở đầu Kim lăng.
Thênh thênh cửa bụt đâu bằng,
Xuất gia tín nữ, tiểu tăng cũng đầy.
Chớ nề dưa muối, am mây,
Hãy nương náu, khỏi nạn này là hơn !"
Giắt tay nàng đến thiền môn,
Bạch sư mới kể hàn ôn gót đầu.
Khêu đèn hạnh, thắp hương mầu,
Chắp tay lạy phật, khấu đầu qui sư.
Sư rằng: "Này đạo Chân như,
-Mênh mông của bút bi từ hẹp ai.
"Đã rằng thụ giáo thiên trai,
Chớ nể dưa muối, chớ nài nem chanh.
Tam qui, ngũ giới chứng minh,
Xem câu nhân quả, niệm kinh Di đà,
Sớm cúng quả, tối dâng hoa,
Duyên xưa nỡ phụ, để già độ cho.
Trên tứ bảo, dưới tam đổ."
Lòng tin hai chữ nam-mô báo đền."
Diệu Thường mới đặt là tên,
-Hay cho đưa xuống phòng thiền nghỉ ngơi. Nàng vâng thụ giáo như lai,
Nhỏ to mới giã ơn người họ Trương.
Thoắt thôi về chốn tĩnh đường,
Buồn trông phong cảnh tha hương ngập ngừng.
Kia thì bụt, nọ thì tăng,
Chẳng hay từ mẫu lạc chừng nơi nao?
Than rằng: Đội đức cù lao,
Bể sâu mấy mấy trượng ?
Trời cao mấy trùng?
Nêu sinh là kiếp đàn ông',
- "Thời tìm nước thẳm, non bồng quản chi?
Bởi sinh là phận nữ nhi,
Nghĩ thì càng tủi, nhớ thì luống thương.
Từ ô chim chóc vật thường,
Còn mong kiếm chốn tìm đường trả ơn.
Mưa sầu gió thảm từng cơn,
Để ai chịu phận thờn bơn một bể!
Biết ai dãi tấm lòng quê?
Có chăng đợi đức từ bi chuyển vần."
Nghĩ xa thôi lại nghĩ gần,
- Chạnh lòng xảy nhớ Châu, Trần nghĩa xưa.
Giãi dầu kể mấy nắng mưa,
Thể phai, nguyền nhạt, bây giờ biết đâu?
Quạt này ai để cho nhau,
Phong phong, mở mở giải sầu làm khuây.
(Bùi Thức Phước, Truyện Phan Trân - Thạch Sanh. NXB Hội Nhà văn, 2012)
Câu 1.Dòng nào nói lên nghệ thuật khắc họa nhân vật trong văn bản đọc trên?
Lời giải chi tiết
Trong đoạn trích trên, câu hỏi yêu cầu tìm dòng nào nói lên nghệ thuật khắc họa nhân vật. Để trả lời câu hỏi này, ta cần phân tích từng phương án được đưa ra:
A. Đối thoại, độc thoại: Trong đoạn trích, có những đoạn đối thoại như cuộc trò chuyện giữa Kiều Liên và ả họ Trương. Đây là một cách để bộc lộ tâm tư, tình cảm và cá tính của nhân vật.
B. Lời người kể chuyện, lời nhân vật: Đoạn trích có cả lời người kể chuyện và lời nhân vật, giúp cung cấp thông tin, diễn biến câu chuyện và tâm trạng của nhân vật. Tuy nhiên, nó không phải là cách trực tiếp để khắc họa nhân vật.
C. Qua nhận xét của người kể chuyện: Trong đoạn trích, người kể chuyện đôi khi dùng để giới thiệu hoặc nhận xét về tình huống, hoàn cảnh nhưng không trực tiếp phản ánh tính cách nhân vật.
D. Qua lời nói, hành động của nhân vật: Đoạn trích chủ yếu diễn tả qua lời nói và hành động của nhân vật Kiều Liên và các nhân vật khác, từ đó thể hiện rõ nét tâm tư, tâm trạng và cá tính của nhân vật.
Phân tích trên cho thấy, nghệ thuật khắc họa nhân vật trong đoạn trích chủ yếu được thể hiện qua lời nói, hành động của nhân vật, vì vậy đáp án đúng là D.
Chú ý khi giải
Khi giải các bài tập về nghệ thuật khắc họa nhân vật trong tác phẩm văn học, các em cần lưu ý: