Cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ
Không gian xao xuyến chuyển sang mùa
Tên mình ai gọi sau vòm lá
Lối cũ em về nay đã thu
Mây trắng bay đi cùng với gió
Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ
Ðắng cay gửi lại bao mùa cũ
Thơ viết đôi dòng theo gió xa
Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may
Áo em sơ ý cỏ găm đầy
Lời yêu mỏng mảnh như màu khói
Ai biết lòng anh có đổi thay?
(Hoa cỏ may, Xuân Quỳnh, Nhà xuất bản Đồng Nai, 1997)
Câu 1.Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh và cấu tứ khổ thơ đầu và cuối sau trong bài thơ ở phần Đọc hiểu.
Phương pháp giải
Hình thức: đoạn văn
Dung lượng: khoảng 200 chữ
Dạng bài: nghị luận văn học
Vấn đề nghị luận: hình ảnh và cấu tứ khổ thơ đầu và cuối trong "Hoa cỏ may" - Xuân Quỳnh
Lời giải chi tiết
a. Xác định được yêu cầu về hình thức và dung lượng đoạn văn
Đảm bảo yêu cầu về hình thức và dung lượng (200 chữ) của đoạn văn. Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận
Phân tích hình ảnh và cấu tứ khổ thơ đầu và cuối sau trong bài thơ ở phần Đọc hiểu.
c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng trên cơ sở đảm bảo những nội dung sau:
* Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm:
+ Xuân Quỳnh được xem là một trong những thi sĩ viết thơ tình hay nhất trong nền văn học Việt Nam hiện đại từ sau năm 1945.
+ Bài thơ Hoa cỏ may được xuất bản năm 1989 và in trong tập thơ cùng tên.
* Phân tích hình ảnh và cấu tứ trong khổ thơ đầu và cuối của bài thơ:
- Khổ 1: Bài thơ mở đầu bằng một bức tranh tương đối tĩnh lặng, hợp với tâm trạng của người đang tìm về kỷ niệm...
+ Câu thơ giàu hình ảnh mà thiếu âm thanh. Có cây mà không nghe thấy tiếng lá. Sông đầy mà không nghe thấy tiếng sóng. Tất cả đang ngưng đọng cho một sự hồi tưởng...
+ Xao xuyến vốn là từ chỉ trạng thái, nhưng ở đây, trước hình tượng trời- đất (không gian) nó gợi âm thanh nhiều hơn.
+ Nhạc thơ được mở rộng ra với vần ơ, rồi đến câu sau dài thêm ra với vần ua, và đến câu thứ tư co rút lại ở vần u, thì sự hướng ngoại của người đọc cũng lần lượt diễn ra như vậy.
+ Thoạt tiên trải ra với cát, với sông, với cây, rồi mở rộng ra đến không gian, đến câu thứ ba lại thu về trong một vòm, để rồi cuối cùng rút lại, tập trung ở đôi bàn chân bồi hồi đặt lên lối cũ.
+ Từ đây người đọc bắt đầu từ giã ngoại cảnh, để cùng bước vào thế giới nội tâm của tác giả, cùng với nỗi niềm tâm sự
- Khổ 3: Bức tranh khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may không ai là không thấy gió đang khơi động, đang nổi. Thậm chí nó còn có hơi hướng ở câu thơ dưới- trong một sự “sơ ý”: áo em sơ ý cỏ găm dày, bởi thật ra thì, hoặc đó chỉ là một cách nhận lỗi làm duyên, hay là tự trách mình để mà hờn mát.
+ Sự thật một khi hoa cỏ may đã “dâng đầy khắp nẻo” như thế kia, thì áo em... cỏ găm dày cũng là một điều hiển nhiên không thể tránh.
+ Xuân Quỳnh rất đạt khi đưa cái màu khói vào trong bức tranh... Bản thân nó cũng đã mỏng mảnh dễ tan, nữa là trong một không gian ngợp tràn những gió. Lời yêu là thế đấy. Thật cũng chẳng thể nào lường trước.
+ Câu hỏi tu từ kết thúc bài thơ 🡪 cuộc sống cứ trôi đi, con người phải sống với phần hạnh phúc mà họ còn đang có. Nhìn lại những kỷ niệm xưa cũng là một cách gạn đục khơi trong để lọc lấy những phần đẹp đẽ cho mình
* Đánh giá nghệ thuật: Lời thơ mộc mạc , các biện pháp tu từ nhân hóa, so sánh, câu hỏi tu từ đã diễn tả vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ nhạy cảm trước thiên nhiên, khao khát hạnh phúc đời thường, lo âu về tình yêu tan vỡ
* Đánh giá chung: Bài thơ gợi ra cảm xúc khó quên trong lòng người đọc
d. Diễn đạt
- Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng việt, liên kết câu trong đoạn văn.
đ. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.
Phương pháp giải
Cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ
Không gian xao xuyến chuyển sang mùa
Khổ thơ đầu mở ra một không gian đặc biệt: "cát vắng", "sông đầy", "cây ngẩn ngơ". Những hình ảnh này vừa gợi cảm giác tĩnh lặng, vắng vẻ, vừa cho thấy sự thay đổi của thiên nhiên khi chuyển mùa. Cấu tứ của khổ thơ tập trung vào việc miêu tả không gian, tạo nên một bức tranh thiên nhiên giàu cảm xúc, gợi sự liên tưởng về những kỷ niệm đã qua.
Lời yêu mỏng mảnh như màu khói
Ai biết lòng anh có đổi thay?
Khổ thơ cuối lại tập trung vào tâm trạng của chủ thể trữ tình. So sánh "lời yêu" với "màu khói", tác giả diễn tả sự mong manh, không chắc chắn của tình yêu. Câu hỏi tu từ "Ai biết lòng anh có đổi thay?" thể hiện sự băn khoăn, lo lắng, nhưng đồng thời cũng là một lời nhắn nhủ, mong muốn được yêu thương và tin tưởng. Cấu tứ của khổ thơ tập trung vào việc thể hiện cảm xúc, tạo nên một kết thúc mở, đầy suy tư. Hai khổ thơ đầu và cuối tạo nên một sự tương phản thú vị, từ không gian đến tâm trạng, từ sự tĩnh lặng đến sự băn khoăn, góp phần làm nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ.
Phương pháp giải
Cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ
Không gian xao xuyến chuyển sang mùa
Khổ thơ đầu mở ra một không gian đặc biệt: "cát vắng", "sông đầy", "cây ngẩn ngơ". Những hình ảnh này vừa gợi cảm giác tĩnh lặng, vắng vẻ, vừa cho thấy sự thay đổi của thiên nhiên khi chuyển mùa. Cấu tứ của khổ thơ tập trung vào việc miêu tả không gian, tạo nên một bức tranh thiên nhiên giàu cảm xúc, gợi sự liên tưởng về những kỷ niệm đã qua.
Lời yêu mỏng mảnh như màu khói
Ai biết lòng anh có đổi thay?
Khổ thơ cuối lại tập trung vào tâm trạng của chủ thể trữ tình. So sánh "lời yêu" với "màu khói", tác giả diễn tả sự mong manh, không chắc chắn của tình yêu. Câu hỏi tu từ "Ai biết lòng anh có đổi thay?" thể hiện sự băn khoăn, lo lắng, nhưng đồng thời cũng là một lời nhắn nhủ, mong muốn được yêu thương và tin tưởng. Cấu tứ của khổ thơ tập trung vào việc thể hiện cảm xúc, tạo nên một kết thúc mở, đầy suy tư. Hai khổ thơ đầu và cuối tạo nên một sự tương phản thú vị, từ không gian đến tâm trạng, từ sự tĩnh lặng đến sự băn khoăn, góp phần làm nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ.