Đọc ngữ liệu sau và thực hiện yêu cầu
Kiều LIÊN TRONG LOẠN LI
(Truyện Phan Trần - Bùi Thức Phước biên soạn)
*Tóm tắt Truyện Phan Trần
Truyện kể về cuộc tình duyên trắc trở của hai người là Phan Sinh và Trần Kiều
Liên. Theo nhà nghiên cứu văn học Việt Dương Quảng Hàm thì truyện được chia
làm 4 hồi.
Họ Phan và họ Trần đính ước gả con cho nhau (từ câu 1 đến câu 150):
Vào đời Tống Tĩnh Khang ở Trung Quốc có Phan công và Trần công vốn là
bạn học và là bạn đồng liêu. Khi vợ hai người thụ thai thì họ hẹn ước rằng hễ một
bên sinh con trai, một bên sinh con gái, sẽ gả cưới cho nhau. Họ Trần trao trâm ngọc, họ Phan trao quạt ngà làm vật đính hôn. Sau đó, họ Phan sinh ra Phan Sinh (tên là Tất Chánh) và họ Trần sinh ra Kiều Liên. Vì tuổi cao, Phan công và Trần công đều xin về trí sĩ để dạy con. Từ đó hai người xa cách nhau. Lớn lên, Phan Sinh thi Hương đỗ thủ khoa, nhưng hỏng thi Hội.
Phan Sinh và Kiều Liên phải xa cách nhau (từ câu 15I đến câu 302):
Thi hỏng, Phan Sinh xấu hổ không về trở quê, tìm nhà trọ học để chờ khoa sau. Trong thời gian ấy, Trần công mất, lại gặp lúc giặc nổi lên, mẹ con Kiều Liên phải chạy loạn. Nửa đường họ lạc nhau, mẹ thì đến nương náu ở nhà Phan công, còn Kiều Liên thì gặp một người họ Trương (Trương thị) đưa vào tu trong một ngôi chùa ở Kim Lăng, và lấy pháp danh là Diệu Thường.
Phan Sinh và Diệu Thường gặp nhau (từ câu 303 đến câu 774):
Phan Sinh đang học ở Thành Đô, chợt nhớ có người cô tu ở Kim Lăng, bèn đến thăm. Người cô bảo ở lại chùa học tập. Phan Sinh trông thấy Diệu Thường thì phải lòng, bèn nhờ bà vãi Hương công làm mối, nhưng Diệu Thường cự tuyệt. Phan Sinh vì thế ốm tương tư. Nể lời sư cô (cô Phan Sinh), Diệu Thường đến thăm chàng. Khi khỏi bệnh, một đêm, chàng lại phòng Diệu Thường cảm ơn. Trước nàng không cho vào, sau vì sợ Phan Sinh tự tận, nên phải mở cửa. Trong câu chuyện, hai người dần nhận ra là họ đã được cha mẹ đính hôn từ trước. Từ đó, hai người thầm đi lại với nhau.
Phan Sinh và Kiều Liên kết thành vợ chồng (từ câu 775 đến câu 954):
Phan sinh đỗ Thám hoa. Về chàng nói rõ cho sư cô biết chuyện của mình với Kiều Liên (tức Diệu Thường). Sư cô khuyên Phan Sinh làm lễ cưới Kiều Liên ở nhà Trương thị, rồi hai vợ chồng cùng vinh quy. Thế là hai họ Phan-Trần sum họp. Sau vua triệu Phan Sinh về kinh nhậm chức và cử đi đánh giặc. Giặc tan, chàng chiến thắng trở về, hai vợ chồng hưởng vinh hoa phú quý.
Đoạn trích sau nằm ở phần 2 của tác phẩm.
-ời chân bước thấp bước cao gập ghềnh.
Thánh tha bốn giọt lệ tình,
Biết đâu quen thuộc với mình được an.
Trải qua một quãng hàn san,
Chênh chênh nguyệt đã gác ngàn non mai.
Bỗng nghe trống giục, chiêng hồi,
Đêm khuya rừng rậm, rụng rời biết đầu?
Pha phôi dặm cúc, chòm lau,
Kẻ chân bãi nước, người đầu đinh non.
Con tìm mẹ, mẹ tìm con,
Cỏ cây man mác, nước non lạ lùng!
Xót nàng thơ yếu trẻ trung,
Trời xanh nỡ phụ má hồng chẳng bênh.
Một mình trong quãng rừng xanh,
Châu chan má phấn, tằm oanh khúc vàng.
Tình cờ gặp ả họ Trương,
Ở Kim lăng đến, hỏi nường thấp cao:
"Con người yểu điệu thanh tao,
Dáng sùi sụt tủi, chìu ngao ngán sầu!
Tên gì, quê, họ nơi đâu"?
180. "Gặp nhau xin ngỏ cho nhau biết cùng"
Tưởng rằng cùng bạn má hồng,
Đoái thương nên mới gạn gùng phân minh.
Gạt châu mới kể sự tình,
Nỗi quê cách trở, nỗi mình truân chiên.
Chẳng cho biết họ tường tên,
Tưởng cơn cớ ấy, tủi nên nếp xưa.
Trương rằng: "Thân gái hạt mưa,
"Biết đem mình ấy bây giờ cậy đâu?
Gần đây có một cảnh mâu"
"Nữ trinh, chùa ấy ở đầu Kim lăng.
Thênh thênh cửa bụt đâu bằng,
Xuất gia tín nữ, tiểu tăng cũng đầy.
Chớ nề dưa muối, am mây,
Hãy nương náu, khỏi nạn này là hơn !"
Giắt tay nàng đến thiền môn,
Bạch sư mới kể hàn ôn gót đầu.
Khêu đèn hạnh, thắp hương mầu,
Chắp tay lạy phật, khấu đầu qui sư.
Sư rằng: "Này đạo Chân như,
-Mênh mông của bút bi từ hẹp ai.
"Đã rằng thụ giáo thiên trai,
Chớ nể dưa muối, chớ nài nem chanh.
Tam qui, ngũ giới chứng minh,
Xem câu nhân quả, niệm kinh Di đà,
Sớm cúng quả, tối dâng hoa,
Duyên xưa nỡ phụ, để già độ cho.
Trên tứ bảo, dưới tam đổ."
Lòng tin hai chữ nam-mô báo đền."
Diệu Thường mới đặt là tên,
-Hay cho đưa xuống phòng thiền nghỉ ngơi. Nàng vâng thụ giáo như lai,
Nhỏ to mới giã ơn người họ Trương.
Thoắt thôi về chốn tĩnh đường,
Buồn trông phong cảnh tha hương ngập ngừng.
Kia thì bụt, nọ thì tăng,
Chẳng hay từ mẫu lạc chừng nơi nao?
Than rằng: Đội đức cù lao,
Bể sâu mấy mấy trượng ?
Trời cao mấy trùng?
Nêu sinh là kiếp đàn ông',
- "Thời tìm nước thẳm, non bồng quản chi?
Bởi sinh là phận nữ nhi,
Nghĩ thì càng tủi, nhớ thì luống thương.
Từ ô chim chóc vật thường,
Còn mong kiếm chốn tìm đường trả ơn.
Mưa sầu gió thảm từng cơn,
Để ai chịu phận thờn bơn một bể!
Biết ai dãi tấm lòng quê?
Có chăng đợi đức từ bi chuyển vần."
Nghĩ xa thôi lại nghĩ gần,
- Chạnh lòng xảy nhớ Châu, Trần nghĩa xưa.
Giãi dầu kể mấy nắng mưa,
Thể phai, nguyền nhạt, bây giờ biết đâu?
Quạt này ai để cho nhau,
Phong phong, mở mở giải sầu làm khuây.
(Bùi Thức Phước, Truyện Phan Trân - Thạch Sanh. NXB Hội Nhà văn, 2012)
Văn bản trên là truyện thơ vì:
Lời giải chi tiết
Đề bài yêu cầu xác định lý do vì sao đoạn văn bản trên được coi là truyện thơ. Để giải quyết vấn đề này, ta cần phân tích 4 phương án đưa ra để xem đâu là phương án đúng.
Do đó, phương án đúng là B.
Chú ý khi giải
Khi giải bài kiểu như thế này, học sinh cần chú ý:
Văn bản trên được thuật kể bằng lời của:
Lời giải chi tiết
Để trả lời câu hỏi "Văn bản trên được thuật kể bằng lời của ai?", chúng ta cần phân tích ngữ liệu đã cho.
Đáp án: C. Người kể chuyện
Chú ý khi giải
Khi giải bài tập dạng này, học sinh cần chú ý:
Dòng nào nói đúng về các nhân vật trong văn bản đọc?
Lời giải chi tiết
Đề bài yêu cầu chúng ta xác định đúng các nhân vật xuất hiện trong đoạn trích từ "Truyện Phan Trần".
Đầu tiên, chúng ta cần đọc kỹ đoạn trích và xác định các nhân vật có mặt.
Dựa theo đoạn trích:
Vậy, các nhân vật thực sự xuất hiện trong đoạn trích là: Kiều Liên, người họ Trương, và nhà sư. Diệu Thường không phải là nhân vật khác, mà chính là Kiều Liên sau khi vào chùa.
Chúng ta xem xét các đáp án:
Đáp án đúng là B: Kiều Liên, nhà sư, người họ Trương.
Chú ý khi giải
Khi làm bài tập kiểu này, học sinh cần:
Sự việc nào không thuộc đoạn trích đọc hiểu Kiều Liên trong loạn li?
Lời giải chi tiết
Để xác định sự việc không thuộc đoạn trích "Kiều Liên trong loạn li", chúng ta cần phân tích từng phương án:
Suy ra, sự việc không thuộc đoạn trích đọc hiểu là phương án D. Phan sinh trông thấy Diệu Thường thì phải lòng.
Chú ý khi giải
Hai dòng thơ: Dời chân bước thấp bước cao gập ghềnh/Thánh tha bốn giọt lệ tình là lời của ai, nói về ai, về điều gì?
Lời giải chi tiết
Để giải quyết câu hỏi này, chúng ta cần phân tích từ ngữ và ngữ cảnh của đoạn trích để xác định ai là người nói và họ đang nói về điều gì.
1. Phân tích nội dung câu thơ: "Dời chân bước thấp bước cao gập ghềnh" và "Thánh tha bốn giọt lệ tình". Hai câu thơ này phản ánh hình ảnh của một người đang trong hoàn cảnh khó khăn, vất vả, gian truân, và tâm trạng đau buồn.
2. Xác định ai là người nói: - Câu thơ trực tiếp bày tỏ tâm trạng đau buồn và hoàn cảnh khốn đốn, gập ghềnh. Đây thường là cách bày tỏ của nhân vật trải qua hoàn cảnh đó. - Trong ngữ liệu, đoạn diễn tả tình cảnh của Kiều Liên phải xa cách mẹ và gặp khó khăn. - Câu "Thánh tha bốn giọt lệ tình" cũng cho thấy nỗi buồn của Kiều Liên trong hoàn cảnh hiện tại của mình.
3. Xác định ngữ cảnh: Đoạn trích miêu tả sự khó khăn, lạc lõng trong rừng của Kiều Liên. Từ "Thánh tha" là một trạng thái của bản thân Kiều Liên, không phải một câu chuyện kể lại.
Vì vậy, lựa chọn đúng sẽ là:
A. Lời của Kiều Liên nói về tình cảnh khốn đốn của mình.
Chú ý khi giải
1. Đọc kỹ ngữ cảnh của đoạn trích để hiểu rõ tâm tư, hoàn cảnh của nhân vật chính. Điều này giúp xác định ai là người nói và nói về điều gì.
2. Chú ý các từ ngữ thể hiện trạng thái tâm hồn, khó khăn để hiểu cảm xúc của nhân vật.
3. Loại bỏ các lựa chọn có khả năng cao không chính xác dựa trên từ khóa và ngữ cảnh.
Hai dòng thơ Kẻ chân bãi nước, người đầu đỉnh non/Con tìm mẹ, mẹ tìm con gợi cảnh tượng gì, tâm trạng nào?
Lời giải chi tiết
Trong ngữ liệu này, chúng ta cần phân tích hai dòng thơ "Kẻ chân bãi nước, người đầu đỉnh non" và "Con tìm mẹ, mẹ tìm con" để nhận diện cảnh tượng và tâm trạng mà tác giả muốn gợi lên.
Cảnh tượng này diễn ra trong một bối cảnh hỗn loạn, không gian mở rộng nhưng lại gây cảm giác mất phương hướng, chia cắt giữa các nhân vật. Tâm trạng của các nhân vật là sự lo sợ, sợ hãi khi phải đối mặt với cảnh mất mát nhau trong loạn lạc.
Phương án đúng là C: Cảnh tượng loạn li, tâm trạng hãi hùng.
Chú ý khi giải
Hai dòng thơ Giãi dầu kể mấy nắng mưa/Thể phai, nguyền nhạt, bây giờ biết đâu? Sử dụng thủ pháp nghệ thuật nào, để nói về điều gì?
Lời giải chi tiết
Để giải quyết bài tập này, chúng ta cần phân tích hai dòng thơ: "Giãi dầu kể mấy nắng mưa/Thể phai, nguyền nhạt, bây giờ biết đâu?" từ ngữ liệu đã cho. Chúng ta sẽ xem xét từng thủ pháp nghệ thuật như được liệt kê trong các phương án.
A. Đảo từ từ láy, câu hỏi tu từ diễn tả nỗi lòng, tình cảnh của Kiều Liên.
Trong câu thơ không sử dụng thủ pháp đảo từ từ láy, vì "giãi dầu" và "nắng mưa" chỉ đơn thuần được sử dụng để mô tả sự khổ cực. Câu hỏi tu từ "bây giờ biết đâu?" thể hiện sự bế tắc và nỗi lòng của Kiều Liên khi nghĩ về quá khứ và hiện tại.
B. Câu hỏi tu từ để diễn tả tình cảnh bế tắc của Kiều Liên.
Phân tích này đúng một phần. Câu hỏi tu từ "bây giờ biết đâu?" thể hiện sự không rõ ràng về tương lai, cho thấy tình cảnh bế tắc của Kiều Liên.
C. Đảo từ từ láy để diễn tả nỗi lòng đau xót, bơ vơ của Kiều Liên.
Câu thơ không sử dụng đảo từ từ láy. Vì vậy, phương án này không chính xác.
D. Nghệ thuật tiểu đối khẳng định lời thề nguyền xưa không còn.
Câu thơ không sử dụng nghệ thuật tiểu đối. Nội dung không hoàn toàn khẳng định lời thề nguyền không còn, mà còn là cảm giác bơ vơ vì mất mát.
Vậy phương án B là phương án đúng, bởi câu hỏi tu từ được sử dụng nhằm diễn tả tình cảnh bế tắc, hoang mang của Kiều Liên. Cô ấy cảm thấy lạc lõng và không còn thấy rõ ý nghĩa của lời thề ngày xưa giữa mình và người yêu.
Chú ý khi giải
Hai dòng thơ sau đây, nhằm diễn tả điều gì
Mưa sầu gió thảm từng cơn,
Để ai chịu phận thờn bơn một bề!
Lời giải chi tiết
Phân tích từng phương án:
A. Trời đời cũng buồn như lòng người.
B. Nỗi xót thương, oán hận cho tình cảnh của Kiều Liên.
C. Nỗi oán hận người tình phụ bạc.
D. Oán thán đất trời quá nghiệt ngã với Kiều Liên.
Kết luận: Đáp án B là phương án chính xác nhất, vì nó thể hiện đầy đủ cả nỗi xót thương và oán hận của Kiều Liên trong hoàn cảnh bi kịch của mình.
Chú ý khi giải
Khi phân tích lựa chọn đáp án, học sinh chú ý:
Hai dòng thơ sau được hiểu như thế nào?
Đã rằng thụ giáo thiên trai,
Chớ nề dưa muối, chớ nài nem chanh.
Lời giải chi tiết
Ta cần phân tích ý nghĩa của hai dòng thơ:
Đã rằng thụ giáo thiên trai,
Chớ nề dưa muối, chớ nài nem chanh.
- "Thụ giáo thiên trai" có nghĩa là nơi cửa Phật, nói về việc tu tập, học hỏi theo con đường đạo đức, đúng đắn.
- "Chớ nề dưa muối, chớ nài nem chanh" nghĩa là không nên nề hà, chê bai cuộc sống thanh bần, giản dị tại chùa - nơi cửa Phật không chỉ dừng lại ở việc ăn uống đơn giản, mà còn mang ý nghĩa không yêu cầu những thứ xa hoa, hưởng thụ vật chất.
Vậy, đáp án đúng là:
C. Đã ở nơi cửa phật không chê nghèo hèn, không đòi hưởng thụ.
Chú ý khi giải
Dòng nào nói lên ưu thế của việc sử dụng thơ Nôm để kể chuyện?
Lời giải chi tiết
Để giải quyết câu hỏi này, chúng ta cần phân tích từng phương án để xác định phương án nào thể hiện rõ ưu thế của việc sử dụng thơ Nôm để kể chuyện.
Sau khi phân tích cả bốn phương án, có thể thấy rằng Phương án C có sự nhấn mạnh về lời thơ giàu vần điệu và cảm xúc, làm nổi bật đặc trưng của thơ Nôm.
Chú ý khi giải
Khi làm dạng bài này, các em nên chú ý:
Dòng nào nói lên nghệ thuật khắc họa nhân vật trong văn bản đọc trên?
Lời giải chi tiết
Trong đoạn trích trên, câu hỏi yêu cầu tìm dòng nào nói lên nghệ thuật khắc họa nhân vật. Để trả lời câu hỏi này, ta cần phân tích từng phương án được đưa ra:
A. Đối thoại, độc thoại: Trong đoạn trích, có những đoạn đối thoại như cuộc trò chuyện giữa Kiều Liên và ả họ Trương. Đây là một cách để bộc lộ tâm tư, tình cảm và cá tính của nhân vật.
B. Lời người kể chuyện, lời nhân vật: Đoạn trích có cả lời người kể chuyện và lời nhân vật, giúp cung cấp thông tin, diễn biến câu chuyện và tâm trạng của nhân vật. Tuy nhiên, nó không phải là cách trực tiếp để khắc họa nhân vật.
C. Qua nhận xét của người kể chuyện: Trong đoạn trích, người kể chuyện đôi khi dùng để giới thiệu hoặc nhận xét về tình huống, hoàn cảnh nhưng không trực tiếp phản ánh tính cách nhân vật.
D. Qua lời nói, hành động của nhân vật: Đoạn trích chủ yếu diễn tả qua lời nói và hành động của nhân vật Kiều Liên và các nhân vật khác, từ đó thể hiện rõ nét tâm tư, tâm trạng và cá tính của nhân vật.
Phân tích trên cho thấy, nghệ thuật khắc họa nhân vật trong đoạn trích chủ yếu được thể hiện qua lời nói, hành động của nhân vật, vì vậy đáp án đúng là D.
Chú ý khi giải
Khi giải các bài tập về nghệ thuật khắc họa nhân vật trong tác phẩm văn học, các em cần lưu ý:
Văn bản Kiều Liên trong loạn li đề cao những phẩm chất nào của con người?
Lời giải chi tiết
Đề bài yêu cầu chúng ta đọc ngữ liệu về truyện Phan Trần và chỉ ra phẩm chất nào của con người được đề cao trong đoạn trích "Kiều Liên trong loạn li". Chúng ta có bốn phương án để lựa chọn:
Để phân tích và tìm ra phương án đúng, chúng ta cần xem xét nội dung và bối cảnh của đoạn trích:
Trong đoạn trích, Kiều Liên trải qua nhiều khó khăn và gian truân: mẹ con xa cách, sống giữa cảnh loạn lạc và phải tá túc ở chùa với một pháp danh mới là Diệu Thường. Cảnh ngộ này cho thấy nàng sống trong hoàn cảnh xã hội bất công, loạn lạc nhưng vẫn giữ vững tinh thần đối mặt với thử thách.
Qua đó, phẩm chất con người được đề cao ở đây chính là "sống trong một xã hội bất công nhưng vẫn đầy nghị lực vượt qua khó khăn." Người đọc có thể cảm nhận được ý chí mạnh mẽ và lòng kiên cường của Kiều Liên qua những khó khăn mà nàng phải đối diện.
Chú ý khi giải
Khi đọc và phân tích ngữ liệu, các em cần chú ý đến ngữ cảnh và của câu chuyện để xác định đúng phẩm chất được đề cao. Học sinh cần phải:
Dòng nào nói lên cảm xúc chủ đạo của văn bản đọc?
Lời giải chi tiết
Trong đoạn trích, người đọc nhận thấy lời văn mang đậm cảm xúc thương cảm về số phận của Kiều Liên. Những câu từ như "xót nàng thơ yếu trẻ trung", "Trời xanh nỡ phụ má hồng chẳng bênh", "một mình trong quãng rừng xanh", "Châu chan má phấn, tằm oanh khúc vàng" thể hiện rõ sự đồng cảm và thương cảm đối với Kiều Liên khi nàng phải chịu cảnh khó khăn và chia cách với gia đình, lưu lạc nơi xa lạ.
Như vậy, dòng biểu cảm chủ đạo trong văn bản này là Thương cảm.
Chọn phương án B. Thương cảm.
Chú ý khi giải
Văn bản Kiều Liên trong loạn ly kể về việc gì? Văn bản thuộc thể loại gì, dấu hiệu nào cho biết điều đó?
Lời giải chi tiết
- Kể về việc: Mẹ con Kiều Liên chạy loạn, lạc mất nhau và cơn tao đoạn đó, Kiều Liên gặp người họ Trương và được đưa vào Chùa. Ở đây, nàng được đặt pháp danh là Diệu Thường.
Văn bản (là đoạn trích) thuộc thể loại truyện thơ Nôm.
Với dấu hiệu nhận biết:
+ Có cốt truyện (chuỗi sự việc), nhân vật và được kể bằng ngôi thứ 3, bằng văn vần (thơ lục bát)
+ Kết hợp 2 phương thức biểu đạt: tự sự và trữ tình (biểu cảm)
Mười câu thơ đầu kể về sự việc gì, bằng lời của ai? Hình ảnh, chi tiết, từ ngữ, thủ pháp nghệ thuật nào diễn tả tâm trạng, cảm xúc họ trong cảnh ngộ ấy?
Lời giải chi tiết
- Kể việc 2 mẹ con Kiều Liên lạc nhau bằng lời của người kể chuyện (ngôi thứ 3)
- Hình ảnh, , từ ngữ, thủ pháp nghệ thuật diễn tả tâm trạng, cảm xúc:
+ Hình ảnh: bước thấp bước cao; ngàn non mai; rừng rậm; dặm cúc, chòm lau -> gợi không gian nơi mẹ con chạy loạn, lạc nhau trong rừng rậm, nơi núi non trong đêm khuya...
+ Các từ ngữ: Thấp cao, gập ghềnh; chênh vênh; bốn giọt lệ tình -> từ láy, tính từ gợi tả, diễn tả tâm trạng hoảng hốt, bất an, vừa tìm nhau vừa khóc thương nhau. Tình cảnh vô cùng khốn khổ.
- Kẻ chân bãi nước, người đầu đỉnh non/Con tìm mẹ, mẹ tìm con -> nghệ thuật tiểu đối và điệp từ thể hiện đồng thời trạng thái của 2 mẹ con: mỗi người một nơi, kẻ tận đỉnh núi, người nơi bãi nước biết bao giờ mới tìm được nhau.
Kiều Liên gặp được may mắn nào? Vì sao, Kiều Liên nhận được sự giúp đỡ, như thế nào? Hãy phân tích một số từ ngữ, chi tiết tiêu biểu làm rõ tấm lòng của người cứu giúp Kiều Liên.
Lời giải chi tiết
Kiều Liên gặp được người phụ nữ họ Trương
Họ giúp đỡ Kiều Liên vì: xót thương cô gái trẻ gặp họa bơ vơ trong rừng,
không biết cậy nhờ ai (không Xót nàng thơ yếu trẻ trung/Trời xanh nợ phụ má hồng chẳng bênh/Một mình trong quãng rừng xanh)
- Sự giúp đỡ của người họ Trương: Khuyên Kim Liên nương náu cửa chùa cho
qua hạn, ở nơi cửa phật chớ nề hà khó khăn
Thênh thênh cửa bụt đâu bằng,
Xuất gia tín nữ, tiểu tăng cũng đầy.
Chớ nề dưa muối, am mây,
Hãy nương náu, khỏi nạn này là hơn
- Tấm lòng của người cứu giúp: Cùng là phận gái nên thương cho Kiều Liên, nên đã hỏi han tình cảnh của nàng Đoái thương nên mới gạn gùng phân minh/ Thân gái hạt mưa); Lo lắng cho Kiều Liên, biết đem mình ấy bây giờ cậy đâu?
-> tác giả mô tả nỗi lòng, lời nói của người họ Trương: đó là người phụ nữ giàu lòng trắc ẩn, xót thương cho tình cảnh của Kiều Liên, giúp nàng nơi ở tạm thời đợi qua ngày tao loạn.
Tác giả đã tập trung thể hiện điều gì từ câu thơ 210 cho đến hết đoạn? Hãy phân tích một số câu thơ tiêu biểu, thủ pháp nghệ thuật thể hiện điều đó.
Lời giải chi tiết
- Tác giả đã tập trung thể hiện tâm trạng, nỗi lòng của Kiều Liên khi tá túc tại
chùa:
+ Nhớ thương lo lắng, không biết mẹ lưu lạc nơi đâu Chẳng hay từ mẫu lạc chừng nơi nao?
Than rằng: "Đội đức cù lao,
Bể sâu mấy mấy trượng? Trời cao mấy trùng?
-> hàng loạt câu hỏi tu từ diễn tả nỗi lòng khắc khoải, lo lắng khôn nguôi của
Kiều Liên về mẹ của mình.
+ Nỗi buồn bực vì phận gái bất lực không lo được cho mẹ Nếu sinh là kiếp đàn ông",
"Thời tìm nước thẳm, non bồng quản chi? Bởi sinh là phận nữ nhi,
Nghĩ thì càng tủi, nhớ thì luống thương.
-> Tác giả dùng độc thoại nội tâm diễn tả khát vọng, nỗi đau trong lòng Kiều Liên: nếu là trai nàng sẽ không quản thân mình, sẽ xông pha nơi rừng núi để quyết tìm mẹ, nhưng phận nữ nhi chỉ biết nhớ thương mẹ trong tủi buồn, đau đớn...
+ Nỗi nhớ về lời thề nguyền năm xưa của hai họ (hẹn kết duyên Phan -Trần) Quạt này ai để cho nhau,
Phong phong, mở mở giãi sầu làm khuây
-> Nàng chỉ biết dùng kỉ vật xưa (chiếc quạt) để nhớ về người xưa, để vơi đi nỗi nhung nhớ.
Xác định chủ đề, cảm hứng chủ đạo của văn bản đọc trên. Từ đó hãy rút ra bức thông điệp của văn bản và cho biết thông điệp nào đã tác động, làm thay đổi suy nghĩ, tình cảm của em?
Lời giải chi tiết
- Chủ đề ngợi ca phẩm chất tốt đẹp, đáng quý của con người: thương yêu, giúp đỡ nhau trong khó khăn, bất trắc, tình yêu thương sâu sắc của người làm con dành cho cha mẹ mình.
Cảm hứng chủ đạo: Thương cảm (cho cảnh ngộ của Kiều Liên)
HS tự làm (lưu ý sự tác động của văn bản cần cụ thể tránh sáo rỗng)
Thông điệp tác động, làm thay đổi suy nghĩ, tình cảm:
+ HS tự trả lời (tự rút ra từ nhận thức của bản thân, cần bám sát văn bản đọc, tránh suy diễn vô căn cứ)
+ Làm thay đổi suy nghĩ, tình cảm: HS đối thoại, soi chiếu với quan điểm, hành động của bản thân đối với cha mẹ, đối với người gặp bất hạnh (để có câu trả lời chân thành, phù hợp)